|
Rơ ràng, có thời, phở đă không
được như cung cách nó phải có, mà ông Nguyễn
phàn nàn trong bài của ḿnh. Ông kể đến lư do
chiến tranh, đôi khi phải tùy tiện và "tùy
nghi". Nhưng sau đó, không thấy ông điểm
đến phở của thời bao cấp cách đây
gần hai chục năm, khi chiến tranh đă chấm
dứt, và không c̣n lư ǵ làm cho phở phải luân lạc.
Tôi không làm sao quên được cái thời phở được
chia thành mậu dịch và tư nhân ấy: phở mậu
dịch có hai loại, phở nước, không
người lái chỉ gồm bánh phở và nước
dùng (giá 2,5 hào) và phở thịt, có lơng
bơng cả vài miếng thịt (giá 5 hào). Gia đ́nh tôi
vốn công nhân viên chức, nên nói chung, chỉ dám xài
loại mậu dịch, dù biết nó không được
đạt tiêu chuẩn lắm; vả lại,
thường chỉ khi nào ốm mới được
nếm, lúc ấy ngon mấy cũng khó nuốt dzô, phân
biệt làm chi ngon dở.
Phở tư nhân dĩ nhiên khá hơn nhiều (tôi liệt
vào hạng này cả thứ phở của những
tổ hợp tác, một h́nh thức "tư hữu
hóa" cấp thấp hồi ấy), cố nhiên, giá
cả cũng mắc hơn, từ 7,5 hào đến
một đồng rưỡị Cái giá sau này chỉ
những hàng phở danh giá, cự phách nhất mới dám
đ̣i (hay nhắc đến giá cả, cũng chỉ
muốn nhớ về dư âm một thờị H́nh
như đầu thế kỷ, độ 1,2 xu là
được một bát phở không tồị Cái giá
trung b́nh hiện nay, là bốn, năm ngàn đồng
bạc bác Hồ) Những quán phở, không hiểu sao
thường được đặt trong một
căn buồng không mấy lớn, tôi tối, có phần
ẩm thấp, với những bộ bàn ghế gỗ
thấp lè tè. Khách đến, lắm khi phải chờ
đợi để có bàn, nhưng không ai tỏ ra
sốt ruột và cáu gắt như khi xếp hàng mậu
dịch. Hẳn ai nấy đều tâm niệm rằng
đó là cái giá phải trả, khi được
thưởng thức một món ngon có chất
lượng caọ Vả lại, lúc chờ đợi,
người ta có thể nói và nghe đủ thứ trên
trời dưới đất, kể cả những tin
"tuyệt mật" như chuyện tăng giá
gạo hoặc đổi tiền vào ngày hôm sau, mà đài
báo vẫn cứ chối đây đẩỵ
Thỉnh thoảng, chúng tôi cũng được
đến những nơi đó, thường là khi cha
mẹ mới có lương, hay được
thưởng. Cứ độ mỗi tháng một
lần, mấy đứa trẻ khốn khổ v́ tḥm
thèm được ngồi sau xe đạp, lắm khi
đi đến những nơi rất xa lạ với
chúng, v́ ở đó có hàng phở ngon ("Bà Ạ bảo
thế", cha mẹ chúng nói; "bà Ạ" ở
đây thường là một nhân vật buôn bán, phe
phẩy, theo ngôn ngữ thời bấy giờ). Khoảng
thời gian chờ đợi, nh́n lăo chủ quán có cái
bụng to cồng kềnh múa chiếc muôi và con dao sáng
loáng - trong ḷng thầm mơ "giá được thành
lăo ta để ăn cả ngày th́
sướng nhẩy!" -, là những giây phút hồi
hộp và hạnh phúc nhất của lũ trẻ. Và
cuối cùng th́ bát phở nghi ngút khói, thơm nồng
được đưa lên, chúng tôi được
dạy cách ăn từ từ, chậm răi để cái
vị của phở ngấm vào huyết quản, vào
từng đường gân, thớ thịt. Tôi hay có
cảm giác hẫng và tiếc, pha chút hoảng hốt khi
bát phở sắp cạn: lại phải chờ hàng tháng
giời đằng đaung nữa! Cho đến
giờ, không phai trong tôi ấn tượng những
đêm giá rét, trên con đường về nhà từ quán
phở, các bậc phụ huynh hể hả v́ "cái quán
khá thật, đáng tiền bỏ ra!", c̣n tôi vẫn
râm ran cả thân thể v́ bát phở nóng hổi trong
bụng, và phấn khích v́ vừa được "tiêu
thụ" một thứ mỹ vị đến
thế.
Đối với nhiều người, ăn phở,
muốn tận hưởng được hết cái
sướng, cứ phải chọn hàng phở gánh ngoài
phố, ngồi xổm (hay bệt) x́ xụp, nước
mắt nước mũi dàn dụa, húp thành tiếng rơ to
rồi suưt xoa khoái trá. Lắm ông to bà lớn mà vẫn mê
thứ phở b́nh dân đó, nhưng vừa sĩ vừa
ngại lộ diện, phải để xe ở rơ xa, ăn mặc giản dị cuốc bộ
ḥa nhập vào ḍng người lam lũ gồm đủ
các thành phần. Cảnh tượng ăn uống như
thế, nh́n th́ có vẻ thô lậu và hơi mất
"mỹ quan", nhưng cứ ở trong cuộc,
mới hay cái lư nhất định của nó. Nó cũng
phản ánh phần nào cái triết lư "sống
để mà ăn" rất đặc thù của Á
Đông: ăn say mê, ăn hể
hả, ăn một cách tận hưởng, chứ không
chỉ đơn thuần thưởng thức.
Đừng tưởng đây là một biểu hiện
"xuống cấp" của văn hóa thời nay, dân
ta hằng nửa thế kỷ trước đă
vậỵ Nguyễn Huy Tưởng trong Sống măi
với thủ đô, có kể về cung cách xài phở
của người Hà Nội thời xưa, như sau:
"... Những người Hà Nội suốt đời
chỉ có một mục đích là cái bát phở buổi
sáng, họ đem hành tây, họ đem trứng đi hàng
phở quen, họ đánh dấu bát để đưa
chan, họ hỏi hồ tiêu, họ đ̣i ít ớt,
họ xin ít nước béo, họ vùi đầu vào bát
phở một cách thô tục, xấu xí, rồi họ ra
đi một cách tự măn, có khi c̣n khinh khỉnh với
người không sành phở như họ nữa".
Dĩ nhiên, qua những ḍng trên, nhà văn muốn
đả kích cái thói tục trong ăn uống, nhưng
phải nhận rằng, thói tục ấy chửa
chắc sẽ mất đi ngay cả trong thời
đại Internet nàỵ
Cốt lơi của phở ngon là nước trong và
ngọt. Thế th́ phải có nhiều xương ḅ, mà
nước ta hồi xưa không đặc trưng
mấy ở phạm trù lắm thịt cá. Thành thử,
nhiều hàng phở chỉ nổi tiếng ngon v́ cho
lắm ḿ chính: người ta thả công khai vào bát phở
hàng th́a bột ngọt. Dù sao, đây cũng là thứ
được coi là xa xỉ vào thời ấy, nên không
cần bàn ǵ nhiều: cứ thế nào mà chẳng
được, miễn ngọt và ngon miệng, không
xương th́ đánh lừa cảm giác bằng thứ
khác, có saọ Nhưng sau đó ít lâu, lại có nhiều
bài báo và dư luận bảo rằng ḿ chính độc,
ăn lắm có hại cho cơ thể (đào đâu ra mà
lắm! Tôi cho rằng thứ tuyên truyền này cũng
giống như kiểu rau muống bổ hơn thịt
ḅ, đường đen (của Quy Ba) tốt hơn
đường trắng mà lũ "chân gỗ"
thời trước nghĩ ra để làm dịu
người dân trước những mặt hàng thiếu
thốn), nên lắm người cũng hỏi chờn
chợn. Ai đó nghĩ ra cách thử cho các loại có mùi
tanh như tôm, cá vào nồi hầm, xem saọ Và
đặc biệt thay, họ làm thế nào mà ta không
thấy có chút vị tanh ǵ sất, lại ngọt và trong
vắt! Không biết, nước phở loại ấy có
được liệt vào hạng "chính thống"
của ông Nguyễn không? (Nhớ đâu viết đấy,
Thạch Lam có kể - h́nh như trong Hà Nội ba
mươi sáu phố phường th́ phải -, rằng
ở Hà thành xưa, có một hàng phở gánh duy nhất
trong nhà thương Phủ Doăn, c̣n cho mấy giọt cà
cuống vào bát nước dùng. Chửa nếm, nên tôi không
h́nh dung ra nổi mùi vị bát phở như thế,
sẽ ra sao).
Phở chính hiệu, có lẽ phải là phở (xuất
xứ từ) Hà Nộị Nhưng từ khi hai miền
lưu thông, thời thế nổi trôi, phở cũng
bị lai tạp đi nhiều lắm. Một số hàng
phở trong Nam, xưng là Bắc Ḱ, mà cho cả rau, giá,
đỗ hệt như hủ tiếu Sài G̣n. Phở
một số nơi c̣n được nêm cả
tương, x́ dầu, mắm tôm, rất lộn xộn.
Chưa nói ǵ đến thứ phở sốt vang (?) hay
thấy ở Hà thành một thời, dính làm ǵ chữ
phở vào đây cho bôi bác nhỉ? Phở hết thành
thứ quà ngon, và trở nên món ăn no của lũ
trưởng giả mớị Một hồi, tại Hà
Nội, ăn phở sang là phải đập vào đó
vài quả trứng, có thể mang saun từ nhà, hoặc
mua thêm ở hiệụ Lắm kẻ đ̣i thêm mấy
miếng thịt được chặt kiểu "chém
to kho mặn" rồi vênh váo ngồi ăn trước
con mắt thán phục của đại chúng. Rồi
chuyện gọi một tô phở đặc biệt,
thịt đầy tú ụ, cho con chó bẹc-giê phốp
pháp ngồi lên ghế ăn cùng với
người, h́nh như không phải là chuyện quá
hiếm hoi ở xứ ngàn năm văn vật. Tôi
vốn chủ trương đa nguyên trong ăn
uống nói chung, và trong lĩnh vực phở nói riêng,
nhưng vẫn không chịu nổi và dị ứng
với những t́m ṭi, "cải cách" không phải
lối kiểu trên.
Nhưng cũng có những thứ "cải cách"
khác, rất đáng được thông cảm, bởi
hoàn cảnh những chủ nhân của chúng, dù nó đi
ngược lại mọi nguyên lư cơ bản và sơ
đẳng của phở. Đó là thứ phở cơm,
hay cơm phở, món ăn
được lũ sinh viên nghèo khó rất ưa thích:
chung nhau bỏ ra ít tiền, mua nước phở,
tiện thể bốc trộm chút hành xanh, về trộn
với cơm hẩm kí túc xá, x́ sụp húp ăn rồi
thi nhau khen ngon. Hay những hàng phở gánh b́nh dân, phục
vụ tận nơi tận chốn lũ học tṛ vào
những đêm mất điện, lúc ấy, mọi
thứ bánh phở, nước dùng, hành, rau thơm,
nước mắm, tương ớt, dấm
được đổ ụp với nhau thành một
thể tạp-pín-lù (hay đả biên lô, theo cụ
Vương Hồng Sển, nghĩa là thập cẩm, tào
lao, ba lăng nhăng), cay xè, lắm khi mặn chát chúa,
vậy mà ai dám bảo là dở?
Phở ở xứ Tây, do những điều kiện
"kỹ thuật" nhất định, chắc không
thể làm theo những phương thức kinh
điển, và ngon như ở nhà. Phở quận 13 Paris,
phở Cali, người khen, kẻ chê, tôi chưa
được nếm nên không dám lạm bàn nói
bậỵ Nhưng người viết bài này cảm
thấy rất hài ḷng về phở ở xứ Đông
Âu, được nấu tại những quán ăn đứng
nho nhỏ tại chốn chợ búa tất bật, lam
lũ của đồng bào ḿnh: ở đó, người
nấu phải dùng bánh phở khô, nước dùng có khi
nguội, và bát phở không nóng một cách tự nhiên, mà
bởi microwave, có khi thiếu cả những gia vị
phụ trợ tối thiểu; người ăn dùng bát,
th́a và dĩa nhựa, một lần rồi bỏ.
Thế mà mỗi lần thưởng thức nó, tôi
vẫn bùi ngùi như đụng chạm vào một
mảnh quê hương.
|