Chùa Hội Khánh
Back MỤC LỤC VIỆTNAM QUÊ HƯƠNG TÔI

GAMES
ABOUT
KIENTRUC
THƠ & TẾU
QUÊ HƯƠNG
MÙI VỊ QUÊ TA
ALBUM VIỆT
QUỐC KỲ
MẸ VIỆT
THƠ TÌNH
THƠ HAY
| |
|
Chùa Hội Khánh là một ngôi
chùa cổ của xứ Thủ Dầu Một. Chùa do thiền sư Ðại Ngạn khai sơn vào năm Tân
Dậu (1741). Nguyên thủy, chùa được xây dựng trên đỉnh đồi, thuộc ấp Bộng Dầu,
dưới tàn cây cổ thụ sum sê. Có lẽ đây là ngôi chùa nhỏ trên mảnh đất không
rộng rãi lắm và cũng rất hẻo lánh, cách xa xứ đô hội Cù lao Phố và xứ Gia
Ðịnh nên ít được biết đến. Ðiều này đã giải thích vì sao chùa Hội Khánh
không có tên trong mục tự quán của sách Gia Ðịnh thành thông chí cũng như
Ðại Nam nhất thống chí.
Ngôi chùa trên đồi thời đầu ấy đã bị giặc Pháp đốt trong khi thực dân
đánh chiếm miền đông Nam Kỳ. Năm Mậu Thìn (1868), chùa được xây lại và dời
xuống dưới chân đồi, nay ở số 35 đường Bác sĩ Yersin, phường Phú Cường, thị
xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Trên một mặt bằng khoảng 700 mét vuông kết cấu kiến trúc cơ bản của
chùa là bốn ngôi nhà chính gồm: Tiền điện, Chính điện, Giảng đường, Ðông
lang và Tây lang.
Chính điện và giảng đường được bố trí theo kiểu "sấp đọi" nối liền
nhau theo thức "trùng thềm điệp ốc" phổ biến của đình chùa truyền thống xứ
Ðàng Trong. Song sự khác biệt rất dễ nhận ra là bố cục các ngôi nhà ấy hoàn
toàn độc đáo. Tiền điện và chính điện thường là kiến trúc ghép song song
nhưng ở đây giảng đường lại là một ngôi nhà "trở đòn dông dọc" như kiểu nhà
thờ Thiên chúa giáo, đặt thẳng góc với cụm kiến trúc chính điện - tiền điện.
Ðây là một "biến tấu" trong kiểu thức kiến trúc đình, chùa truyền thống của
xứ Nam Kỳ.
Ðặc điểm kiến trúc cá biệt của chùa Hội Khánh biểu hiện rõ rệt hơn cả
là kiểu thức kết cấu của bộ khung. Kết cấu khung của tiền điện, chính điện
và giảng đường đều không tuân theo kết cấu tứ trụ (vuông vức và phát triển
không gian đều ra 4 phía) - một kiểu thức đặc trưng của kiến trúc tôn giáo -
tín ngưỡng gọi là Stupa (phù đồ = tháp) của Phật giáo (hay gọi là tứ tượng
theo tâm thức dịch lý) mà chúng ta có thể thấy ở đại đa số đình, chùa, miếu,
võ ở Nam Kỳ. Trái lại, kết cấu bộ khung chùa Hội Khánh là kết cấu của nhà
rường (còn gọi là nhà xiên trính) của kiến trúc dân dụng thông thường mở cho
chúng ta một giả định là chùa được tạo dựng bởi lớp thợ Thủ Dầu Một còn mang
đậm kỹ thuật xây dựng và phong cách trang trí chạm trổ của các thợ xứ Huế.
So sánh các công trình chạm trổ trang trí ở các cột, bao lam, bao lam
bàn thờ..., ngay trong chùa cũng có sự khác biệt của hai phong cách nghệ
thuật. Nếu các bao lam bàn thờ, nơi trưng bày các bộ tượng La Hán, tượng
Minh Vương thể hiện rõ kỹ thuật "dùng nhát đục để hoàn chỉnh tác phẩm" của
thợ Thủ thời cận đại (những năm 1920 -1930 về sau) với đường nét sắc sảo
cứng cáp, thì các bao lam trên xà ngang ở những hàng cột tiền điện lại được
chạm tế kiểu với đường nét thanh mảnh và rõ ràng là được cạo gọt tỉ mỉ. Ðặc
điểm dễ nhận ra đặc trưng của các thợ Thủ kỳ cựu là cấu tạo bao lam theo
khuôn đố, và cách ráp thẳng góc hình thước thợ: một mảng chạm nổi tên trên
thanh ngang của khuôn và hai mảng chạm lộng ghép vào góc của khuôn tạo nên
một trang trí đơn giản, làm tăng giá trị mỹ thuật cho các bộ phận kiến trúc
mà vẫn thanh tú. Ðặc điểm này hoàn toàn khác với xu hướng lấy sự cầu kỳ và "duy
số lượng" của trang trí kiến trúc Hoa mà ta thường thấy ở các đền miếu của
người Hoa ở Chợ Lớn và ngay cả các ngôi chùa Ông, chùa Bà của xứ Thủ Dầu Một
này.
Dấu tích biểu thị rõ rệt phong cách nghệ thuật của lớp thợ Thủ kỳ cựu
ở đây có lẽ là những mảnh phù điêu trang trí trên khung cửa phía sau giảng
đường.
Sự khác biệt của các bức chạm của lớp thợ Thủ cận đại so với lớp thợ
Thủ kỳ cựu là những bao lam dây nho, lá lật và hoa phù dung, bao lam phù
dung - phụng trên các bàn thờ khác ở chính điện. Bức chạm dây nho đối xứng
nhau hai bên một "mặt gỗ" hình bầu dục có thể coi là tiêu chí của điêu khắc
gỗ chịu ảnh hưởng môtip trang trí phương Tây mà chúng ta thường thấy ở các
bộ bàn ghế Louis. Mặt khác, bao lam Thập bát La Hán ở hàng cột cái trước
Phật điện lại chỉ ra một kiểu cách chịu ảnh hưởng của khuôn mẫu nghệ thuật
của thợ người Hoa mặc dù nó đã bớt rườm rà và mảng khối thanh tú hơn tính
chất ô dề mà chúng ta thường bị choáng ngợp bởi sự lắm tầng nhiều lớp của
các bao lam ở chùa Hoa.
Sự tương đồng về đặc điểm đồ tượng học và phong cách nghệ thuật của
chùa Hội Khánh và chùa Giác Viên không chỉ nhận ra ở bao lam Thập bát La Hán
mà còn ở bộ tượng Di Ðà tam tôn và nhất là bộ tượng Ngũ hiền (Tứ Bồ Tát và
Phật). Ðiều này cộng với niên đại làm lại của hai ngôi chùa (Hội Khánh 1868;
Giác Viên 1891) là cứ liệu để chúng ta xếp chúng vào thế hệ tượng gỗ Nam Kỳ
cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.
Chùa Hội Khánh từ lâu được trở thành danh lam của Thủ Dầu Một không
chỉ đơn thuần nó là ngôi cổ tự có giá trị về kiến trúc nghệ thuật, đã từng
được người Pháp chọn làm mô hình để đưa sang Marseille triển lãm cùng với
đình Bà Lụa mà mặt khác là do ở đây có những danh tăng đạo cao đức trọng,
đào tạo ra đội ngũ tăng sĩ và là một trong những tụ điểm của những người yêu
nước trong thời kỳ đen tối của lịch sử đầu thế kỷ này cũng như trong những
năm tháng kháng chiến vẻ vang sau Cách mạng Tháng Tám.
Chùa là nơi lui tới và lưu trú của một số sĩ phu yêu nước ở miền
trung vào ẩn lánh sự truy lùng của thực dân Pháp trong đó có cụ Tú Cúc (Phan
Ðình Viện) và cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của Bác Hồ. Khoảng những năm
1923-1926, Hòa thượng Từ Vân, trụ trì chùa Hội Khánh đã cùng cụ Tú Cúc, cụ
Nguyễn Sinh Sắc và mộtá số vị khác đã lập ra Hội danh dự yêu nước để động
viên và tuyên truyền tinh thần chống thực dân Pháp, mưu cầu độc lập cho dân
tộc. Những hạt giống mà Hội danh dự yêu nước đã gieo trồng ở đất Thủ đã nảy
mầm trong những giai đoạn lịch sử sau này dù Hội chưa hoạt động được lâu đã
bị mật thám Pháp theo dõi, một số hội viên bị bắt vì tội "lập hội kín bất
hợp pháp".
Những năm 1945 - 1954, chùa Hội Khánh là trụ sở của tổ chức Phật giáo
cứu quốc Thủ Dầu Một. Tăng sĩ và Phật tử của chùa là lực lượng nòng cốt.
Giai đoạn lịch sử này, trong hàng ngũ tăng ni Phật tử nổi bật là Thiền sư
Minh Tịnh, chủ tịch Hội Phật giáo cứu quốc Thủ Dầu Một.
Từ năm 1930, ông phát tâm đi ấn Ðộ, qua Tây Tạng để chiêm bái đất
Phật. Ngày 17 tháng 4 năm 1937 ông lên đường đi ấn Ðộ, qua Népal, Bhutan.
Sau 2 năm hành hương trên đất Phật, ông trở về nước. Năm 1940, ông xây chùa
Thiên Chơn (Búng) và sau lập chùa Tây Tạng.
Ngoài việc đạo, thiền sư Minh Tịnh tham gia sáng lập "Hội truyền bá
quốc ngữ" hoạt động trên địa bàn Phú Cường suốt năm 1944-1945.
Thiền sư là người cha đỡ đầu cho Trung đoàn 301 tỉnh Thủ Dầu Một.
Nhiều lần, đích thân thiền sư cải trang vào chiến khu để dự hội nghị, đem
tài vật của hậu phương tiếp tế cho bộ đội. Ông và Trụ trì chùa Hội Khánh Lê
Văn Bạch, nhường quyền canh tác 28 mẫu ruộng của chùa tại xã An Tây để lấy
hoa lợi nuôi quân.
Công việc của thiền sư Minh Tịnh bị mật thám phát hiện. Chúng mời ông
lên quận, đưa ra những chứng cớ để đe dọa. Song ông đối đáp rất nghiêm minh
và mưu trí nên chúng phải trả về chùa. Ông lại tiếp tục hoạt động. Năm 1951,
thiền sư Minh Tịnh qua đời. Lễ truy điệu nhà sư được tổ chức trong chiến khu
Ð.
Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử trên 200 năm, các kiến
trúc xưa của chùa Hội Khánh hầu như vẫn còn nguyên vẹn... Ðấy là niềm tự hào
lớn của đồng bào Bình Dương ngày nay.
Hãy một lần đến Bình Dương để ghé chùa Hội Khánh, được đứng dưới rừng
cây sao để tâm linh được nhắc nhở về một quá khứ hào hùng của biết bao tiền
nhân đã ngã xuống để có một Hội Khánh ngày nay.
Huy Trang
Back MỤC LỤC VIỆTNAM QUÊ HƯƠNG
TÔI
|