*** Trở Về MÙI VỊ QUÊ HƯƠNG ***

Giai Thoại
Ba Que Xỏ Lá

Trong thời Pháp thuộc, có một bọn người chuyên tổ chức những "tṛ chơi có thưởng". Tṛ chơi của bọn họ gồm một cái que và ba chiếc lá. Mỗi lá có đính một chiếc ṿng nhỏ ở cuống. Người chơi cầm cái que nhỏ xỏ vào ba ṿng nàỵ Mỗi người chỉ được xỏ một lần. Người nào xỏ vào được một lúc cả ba lá và nhấc được chúng lên th́ được lĩnh thưởng. Ai xỏ trật, tức xỏ không vào lá nào hoặc chỉ vào một trong ba lá, sẽ mất toi số tiền đặt cược[1].
Cũng liên quan tới tṛ chơi này, có người kể lại cách thức chơi của bọn chủ tṛ có khác chút ít. Chúng thường dùng ba que nhỏ, trong đó chỉ có một que xỏ vào chiếc lá rồi ch́a cho mọi người xem. Chúng tuyên bố rằng nếu ai rút trúng que có chiếc lá khi chúng nắm tay lại th́ người đó trúng thưởng. Ngược lại, người chơi sẽ mất số tiền đặt cược [1] trước. Dù chơi theo cách thức nào đi nữa, th́ bọn chủ tṛ vẫn có nhiều mưu mẹo, khiến cho người chơi bao giờ cũng thua cuộc. V́ thế, người ta mới gọi bọn chủ tṛ là bọn "ba que xỏ lá" với hàm ư là bọn bịp bợm, lừa đảo, dối trá. Từ cách thức chơi thứ nhất, nhiều người cho rằng h́nh thức ban đầu của "ba que xỏ lá" là "xỏ lá ba que"[2].

Sở dĩ có sự thay đổi này là do việc đọc chệch cho thuận miệng, dễ đọc, dễ nhớ.

Thành ngữ "ba que xỏ lá" dần dần được mở rộng phạm vi xử dụng. Nó được dùng để chỉ tất cả những hạng người lừa lọc, bịp bợm, đểu cáng

Bá Nha Tử Kỳ
Bá Nha đời Xuân Thu là một người có tài đàn. Chung Tử Kỳ là người biết thưởng thức âm nhạc. Khi Bá Nha ngồi gảy đàn, bụng nghĩ đến núi, th́ Chung Tử Kỳ khen: "Tiếng đàn chót vót như núi cao". Lúc Bá Nha đánh đàn, ḷng nghĩ về sông nước, th́ Chung Tử Kỳ nói: "Tiếng đàn cuồn cuộn như nước chảỵ"

Sau khi Chung Tử Kỳ chết, Bá Nha đập vỡ đàn, bảo rằng: "Trong thiên hạ không ai c̣n được nghe tiếng đàn của ta nữa".

Bá Nha Tử Kỳ, ư nói một t́nh bạn hữu thắm thiết.

         Bát Trân
Bát Trân ư nói là những món ăn ngon.

Ngày xưa, có 8 món ăn được liệt vào hạng ngon nhất, nấu công phu và rất bổ dưỡng, chỉ có vua chúa mới có dịp ăn, ấy là:

+ Nem Công: Thịt công ăn bổ, giải trừ thứ độc trong ngườị Khi làm, người ta phải cẩn thận cắt mật vất đi, v́ mật công rất độc.

+ Chả Phượng: Giống chim này sống ở núi cao, rất khó bắt. Con trống gọi là Phụng, con mái là Hoàng. Người xưa tin rằng khi nào chim phụng xuất hiện là điềm thánh nhân ra đờị

+ Da Tây Ngu: Tây Ngu c̣n gọi là Tê Ngưu (Tê Giác), một giống heo rừng lớn, chân có ba móng, đầu có ba sừng. Nó có h́nh dạng xấu xí, chỉ ăn cây rừng. Da Tây Ngu dày dao đâm không thủng, chỉ trừ da ở nách là mỏng, người ta lấy da này ngâm vào nước rồi nấu ăn.

+
Tay Gấu: Gấu có sức mạnh tập trung vào hai chân trước (tay)

+ Gân Nai: Gân nai nửa dẻo nửa gịn, ăn tráng dương bổ thận.

+ Môi Đười Ươi: Đười Ươi là giống khỉ lớn thích đùa giỡn, khi vui phát ra tiếng như cười nức nẻ

+ Thịt Chân Voi: Voi tuy lớn, nhưng chính giữa bàn chân voi lại có một lớp thịt gân rất mềm.

+ Yến Sào: Yến ăn rau câu bọt bẻ, pha trộn với nước miếng, chế thành một chất nhựa trong, nhiễu ra thành sợi để dệt tổ áp dính vào tường. Tổ yến làm rất công phu, ngon và bổ.

Bạch Diện Thư Sinh

Đời nhà Tống, ở vùng Vũ Khang thuộc Ngô Quận, có 1 người tên là Trầm Khánh Chi, từ nhỏ đă ôm chí lớn, lại có sức mạnh và giỏi về bài binh bố trận.

Niên hiệu Nguyên gia thứ 27, Tống Văn đế muốn mở mang bờ cơi về phương Bắc, sai nhóm Vương Huyền Mô đem quân Bắc phạt. Trầm Khánh Chi hết lời can ngăn, lại đưa ra trường hợp của nhiều vị vua trước, đă nhiều lần Bắc phạt nhưng đều thất bạị Tống Văn đế liền cử 2 vị quan văn ra tranh luận với Trầm Khánh Chị Trầm Khánh Chi nói :

- Giữ việc nước, cũng như lo việc nhà vậỵ Muốn bàn luận về việc cày ruộng th́ phải bàn luận với 1 nông phu nhiều kinh nghiệm. Muốn bàn luận về việc canh cửi th́ phải bàn luận với người đàn bà dệt vảị Nay Bệ hạ muốn mở chiến tranh với nước khác, mà lại để những người bạch diện thư sinh không 1 chút kinh nghiệm về quân sự đứng ra bàn luận, th́ làm sao mà thành công được.

Tống Văn đế không nghe lời Trầm Khánh Chi, cứ cho đem quân đánh phương Bắc, và quả nhiên bại trận nặng nề.

Từ câu nói của Trầm Khánh Chi mà người đời sau rút ra thành ngữ "Bạch diện thư sinh" để chỉ người trẻ tuổi, chỉ có cái học sách vở, không có kinh nghiệm ǵ và không biết đối phó với thực tế ngoài đờị

Châu Sa
Châu sa có nghĩa là nước mắt rơị

Tục truyền rằng đời xưa có một loại người gọi là Giao Nhân, ở dưới biển Nam Hải lên buôn bán với con ngườị Đến cuối năm th́ họ phải trở về Thủy Cung. Lúc chia tay loài người, họ quyến luyến nhỏ lệ. Lạ lùng thay, nước mắt họ lúc

Châu Về Hợp Phố
"Châu về Hợp (hiệp) Phố" ư nói trùng phùng gặp gỡ, đoàn tụ lạị

Hợp Phố xưa thuộc tỉnh Giao Châu, nay là Quảng Đông. Vào thời Bắc thuộc, miền bể ấy có rất nhiều ngọc châu (ngọc trai). Các quan Tàu cứ bắt dân phải đi ṃ và nộp cống. Các ngọc châu v́ vậy bỏ đi nơi khác.

Về sau có một người tên là Mạnh Thường về làm quan. Mạnh Thường thanh liêm và thương dân nghèọ Những ngọc châu tự nhiên lại trở về Hợp Phố.

 
Chim Chắp Cánh, Cây Liền Cành
"Chim chắp cánh, cây liền cành", ư nói đẹp duyên, hai người yêu nhau được lấy nhaụ

Trong Trường Hận Ca, ngày xưa vua Đường Huyền Tông và Dương Quư Phi yêu nhau, nói với nhau rằng:

"Tại thiên nguyện tác thị đực điểu,
Tại địa nguyện vi liên lư chi"
(Ở trên trời th́ làm con chim liền cánh. Ở dưới đất th́ làm cành cây liền thớ)

Chim Sa Cá Lặn

Ngày nay, mọi người đều hiểu thành ngữ này là một cách nói ngoa dụ để chỉ người đàn bà rất đẹp, giống như cách hiểu thành ngữ "hoa hờn nguyệt thẹn", tức đẹp tới mức hoa phải hờn v́ kém sắc, trăng phải thẹn v́ kém tươị Nhưng thật ra ư nghĩa ban đầu của thành ngữ này không phải vậỵ

Trang Chu, hay thường gọi là Trang Tử, người đời Chiến Quốc học thức rất uyên bác, không môn ǵ không biết. Trong sách "Nam Hoa Kinh", ông chép rằng: Mao Tường và Lệ Cơ là hai người đàn bà đẹp, cá thấy: ch́m vào chốn hang sâu, chim thấy: bay cao (ngư kiến chi nhập thâm, điểu kiến chi cao phi). Ư Trang Chu muốn nói rằng mọi sự trên đời đều là tương đối, Mao Tường, Lệ Cơ tuy đẹp, song chỉ đẹp đối với người, chứ biết đâu trông thấy họ, cá chẳng sợ mà lặn sâu, chim chẳng sợ mà bay cao ?

Người sau hiểu khác hẳn nguyên ư ấy của Trang Chụ Sách "Thông Tục Biên" dùng thành ngữ "trầm ngư lạc nhạn" tức "chim rơi cá ch́m" để chỉ nhan sắc người đàn bà cực đẹ.p.

Chim Xanh

Ngày xưa Hán Vũ Đế đang dạo chơi trong vườn thượng uyển, bỗng có hai con chim xanh bay đến. Đông Phương Sóc tâu rằng: Đấy là sứ giả nước Tây Vương Mẫu đem tin đi trước. Được một lát th́ Tây Vương Mẫu đến thật.

Chim Xanh ư nói là kẻ đưa tin.

Công Dă Tràng

Công dă tràng, ư nói có gắng công cũng vô ích.

Tục truyền có chàng thợ săn tên Dă Tràng, một ngày kia nh́n thấy một cặp rắn. Khi con rắn cái lột da th́ rắn đực đi t́m đồ ăn mang về chọ Nhưng khi rắn đực lột da th́ rắn cái bèn ḅ đi t́m rắn đực khác. Dă Tràng bất b́nh bèn bắn chết rắn cáị Rắn đực đi t́m vợ, gặp Dă Tràng mới hiểu ra vợ ḿnh xấu xạ Rắn đực bèn trả ơn Dă Tràng bằng một viên ngọc lạ, mỗi lần Dă Tràng ngậm viên ngọc này th́ có thể nghe và hiểu được tiếng nói của loài vật.

Tin viên ngọc lạ có thể cho cho con người hiểu ngôn ngữ loài vật bay đến tai vuạ Vua cho đ̣i Dă Tràng tới, mượn viên ngọc của chàng và ban thưởng nhiều của cảị

Một hôm vua xuống thuyền, ngậm viên ngọc, nghe được các loại cá mực hát rất haỵ Vua bật cười, viên ngọc bị rơi xuống biển.

Dă Tràng tiếc viên ngọc, ngày đem ngụp lặn t́m kiếm, kiệt sức chết đị Dă Tràng biến thành một loài cua bể ngày đêm tha cát lấp biển để t́m lại viên ngọc đă mất.

Dă Tràng tha cát lấp bể, sóng biển lại đánh vàọ Cho nên trong dân gian Việt
Nam có câu:

"Dă Tràng xe cát biển đông,
Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán ǵ"

Công Tử Bạc Liêu

Tục truyền rằng người giàu nhất Bạc Liêu ngày xưa là ông Hội đồng Trạch, vốn là thư kư làng.

Hội đồng Trạch có cả chục ngàn mẫu ruộng. Theo lời cháu chắt ông kể lại, toàn tỉnh Bạc Liêu bấy giờ có 13 lô ruộng th́ hết 11 lô là của ông Trạch. Ông có 3 con trai và 4 con gáị

Trong số 3 người con trai của ông Trạch có cậu ba Trần Trinh Huy là ăn chơi phung phí hơn hết.

Mỗi lần đi xem ruộng, cậu ba Huy mướn máy bay nhẹ có phi công người Pháp chở. Mỗi lần đi đ̣i nợ, cậu đi một chiếc xe khác. Có lần cậu đi hóng gió, dùng cả chục chiếc xe kéo, mỗi chiếc chở một món đồ của cậu như cái mũ, cây can ... Người ta c̣n kể nhiều truyền thuyết về cuộc sống đào hoa, phóng khoáng của cậu ba Huy nữa ...

Ngôi nhà của công tử Bạc Liêu nay trở thành bảo tàng tỉnh Minh Hảị

Ngày nay người dùng thuật ngữ "Công tử Bạc Liêu" để ám chỉ người ăn sung mặc sướng, không phải làm lụng cực nhọc.

Dây Tơ Hồng

Điển tích Tơ Hồng do chuyện ngày xưa, bên Tàu có một người tên là Vi Cố, một bữa đi chơi trăng, bắt gặp một ông già đang ngồi xe các sợi dây đỏ. Hỏi ra th́ ông ta nói ông là Nguyệt Lăo, chuyên coi việc xe duyên vợ chồng nhân gian. Ông nói "ta buộc dây tơ này vào chân người nào th́ dù thế nào cũng phải lấy nhau". Vi Cố bèn hỏi sau này ông sẽ lấy ai, Nguyệt lăo nói Vi Cố sẽ lấy một cô gái hàng rau rách rưới bẩn thỉụ Vi Cố giận lắm toan giết cô gái, nhưng rồi cuối cùng hai người cũng lấy nhaụ

Người Việt Nam tin t́nh duyên do tiền định trước, cho nên thành vợ thành chồng rồi th́ phải tạ ơn ông Nguyệt Lăo và cầu mong dây tơ hồng được cột chặt bền lâu

Đẩu Ngọc Xích Bố

"Đẩu ngọc xích bố" có nghĩa là một đấu lúa, một thước vảị
Ngày xưa Cao Tổ có hai đứa con Hán Văn Đế và Hoài Nam Vương. Hoài Nam Vương không tuân theo phép nước nên bị Hán Văn Đế đày sang đất Thục. Hoài Nam Vương uất ức nhịn đói mà chết.

Người đương thời mới đặt câu ca dao: "Nhất xích bố thương khả phùng, nhất đấu tất thương khả thung, huynh đệ nhi nhân bất tương dung", có nghĩa là một tấc vải cũng có thể may áo mặc chung, một đấu gạo cũng có thể chia nhau ăn chung, hai anh em sao lại không dung tha nhau được?.

Điển Tích Truyện Kiều - Ả Lư

Dâng thư đă thẹn nàng Oanh
Lại thua ả Lư bán ḿnh hay sao ?

Sách "Sưu Thần kư" có chuyện nàng Lư Kư:

Thời Hán Vũ Đế, ở quận Mân Trung đất Đông Việt., trong một cái hang sâu có con rắn khổng lồ; dân chúng trong vùng rất kinh hăi, gọi là thần rắn. Hàng năm phải cung cho thần rắn một người con gái đồng trinh th́ dân mới yên ổn làm ăn. Nhưng dần cũng hết, t́m đâu ra con gái.

Bấy giờ ở huyện Tương Lạc, có nàng Lư Kư, nhà nghèo xơ xác, cả cha mẹ đều bệnh năng không tiền thuốc thang. Nàng Lư đă trốn cha mẹ, đến cửa quan tự nguyện bán ḿnh nộp mạng cho rắn, rồi nhờ chuyển tiền về cho cha mẹ.

Nàng xin quan lệnh ban cho một cây gươm bén và một con chó dữ. Vào bên trong hang, nàng thả chó dữ ra chiến đấu với rắn, và dùng gươm chém rắn từng khúc.

Dư Thiện là cháu lâu đời của Việt Câu Tiễn được Hán Vũ Đế phong vương ở đất Đông Việt. Biết được chuyện người con gái hiếu thảo, can trường, Đông Việt vương đă đón ả Lư về làm vợ.

Điển Tích Truyện Kiều - Ả Tạ

Khen tài nhả ngọc phun châu
Nàng Ban, Ả Tạ cũng đâu thế này.

Ả Tạ là Tạ Đào Uẩn, con gái quan Thái úy Tạ Công đời nhà Tấn, có nhan sắc tuyệt trần lại thông minh nhất mực. thơ phú hay lừng tiếng.

Trong cùng một vùng, có họ Vương cũng ḍng giỏi gia phong, con cháu cũng thuộc vào bậc vọng tộc. Họ Tạ và họ Vương bắt thông gia với nhau, con trai con gái hai họ chỉ kết duyên vói nhau, không lấy người ngoài họ.

Khi Tạ Đào Uẩn đến tuổi cập kê, Tào Công nhờ em la Tạ An sang hà họ Vương kén rể. Được tin, tất cả nho sinh nhà họ Vương người nào cũng áo quần tươm tất, ăn nói đoan trang, muốn phô diễn ḿnh là bậc tài hoa thế phiệt. Tạ An hồi giờ để ư từng người nhưng chưa để mắt người đàn ông nào. Một hôm, Tạ An qui tụ các nho sinh họ Vương lại để thử tài đối đáp văn chương. Mọi người đang thi thố tài năng th́ Tạ An nh́n thấy về phía đông, một chàng trai tuấn tú, mặc áo để trật bụng ra ngoài, đang nằm vắt vẻo chân chữ ngũ trên giường. Tạ An hỏi ḍ:

- Công tử nằm ở giường phía đông tên là ǵ vậy?

- Chàng tên là Vương Ngưng Chi, tự Vương Hưu Quân có tiếng ham học, thông minh.

Tạ An ưng ư, về báo với Tạ Công. Quan Thái úy vỗ tay:

- Người đó mới là rể tốt của ta đó.

Vài hôm sau, Tạ Công gọi Vương Ngưng Chi đến, gả nàng Tạ Đào Uẩn. Chàng trai lơ đăng chuyện kết duyên rước nàng dâu tài sắc về rồi, thuờng ngày hay ra bờ sông Lan Chữ (tỉnh Triét Giang) ngâm vịnh, viết thư pháp, nét chữ tuyệt đẹp, người đời sau gọi là Thiếp Lan Đ́nh. Trong Kiều c̣n có câu:

Khen rằng bút pháp đă tinh
So vào với Thiếp Lan Đ́nh nào thua.

Chàng trai tuấn tú thông minh nằm vắt chân chữ ngũ trên giường phiá đông (đông sàng) mà lại được vợ đẹp. Người đời sau dùng điển tích Đông sàng là ư muốn nói chàng rể quí, xứng đôi với gái thuyền quyên.

Điển Tích Truyện Kiều - Ba Đào
Gặp cơn b́nh địa ba đào
Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em.

Các văn nhân xưa có câu đối:
Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách.
Sắc bất ba đào dị nịch nhân.

Gió mưa không có then khóa mà giữ được khách.
Nhan sắc không phải sóng lớn mà d́m chết người.

Điển tích "Ba đào"- sóng lớn - trong sách Dị Văn lục: Triều Huệ Đế đời nhà Minh, tại huyện Tề Hàng, tỉnh Sơn Nam, có hai vợ chồng Trần Hoá Chiêu, Lương Tiểu Ngạ Tiểu Nga là con một gia đ́nh thúc nho lễ giáo, nổi tiếng là một trang quốc sắc thiên hương; thuở nhỏ được cha mẹ cho theo đ̣i bút nghiên, mười hai tuổi đă biết làm thơ phú, đọc thông các sách thánh hiền. Hoá Chiêu là học tṛ của cha Tiểu Nga; cậu học tṛ nghèo, mồ côi cha, thông minh, ham học, mặt mày khôi ngô, được thầy thương, gả con gái và cho ở rể. Sống chung với nhau được ba năm, th́ bố mẹ vơ, lần lượt qua đời, để lại cho vợ chồng một căn phố và ít vốn liéng để mở một tiệm tạp hóa.

Đời sống cũng được êm đềm. Trong vùng, các văn nhân thỉnh thoảng đến mua hàng và cùng vợ chồng Trần Hóa Chiêu xướng họa ngâm thơ. Cũng không ít khách lai văng thường xuyên đến đó vờ vĩnh mua hàng, để được dịp chiêm ngưỡng dung nhan Tiểu Nga; có phú hộ Trát Hiếu Sắc cũng thuộc loại khách này.

Nhưng không như những mối t́nh câm kia, đến nh́n để rồi thầm yêu trộm nhớ, Hiiếu Sắc đă manh tâm chiếm hữu người đàn ba này cho được. Phú hộ t́m hiểu, biết vợ chồng v́ ham thích thơ văn , nên buông lỏng chuyện mua bán, vốn liếng cụt dần. Phú hộ ra tay hào hiệp, cho mượn vàng bạc để gầy dựng lại. Ngại ngùng lần đầu, nhưng rồi tiếp những lần sau, Hoá Chiêu cầm vàng bạc mượn đi buôn bán xa, chuyến nào cũng lời khẫm. Lần nào, vợ chồng cũng nài nỉ hoàn lại vốn và trả lời, nhưng Hiếu Săc đều từ chối lấy lăi.

Cứ vậy, hai năm họ trở thành bạn thâm giao. Hiếu Sắc luôn tỏ ra ḿnh là người đàng hoàng, nghiêm túc, không bao giờ đến nhà bạn trong lúc vắng mặt Hoá Chiêu; những lúc tiếp chuyện với Lương Tiểu Nga, luôn luôn giữ thái độ đứng đắn. Vợ chồng Hoá Chiêu vui mừng có được người bạn hiền, hào phóng. Khi tự xét lư lịch "nằm vùng" của ḿnh đă đến lúc kết nạp được, Hiếu Sắc đề nghị chung vốn làm ăn lớn. Vợ chồng Hóa Chiêu hoàn toàn tin tưởng, hớn hở nhận lời ngay.

Việc buôn bán phất lên nhanh, nhưng Hiếu Sắc vẫn cương quyết không bao giờ nhận chia lăi, nại lư do để giúp vợ chồng bạn.

Một lần, Hiếu Sắc bàn với Hóa Chiêu phải đi buôn một chuyến lớn ở Hàng Châu xa xôi và thuê thuyền xong, cả hai cùng lên đường. Ṛng ră cả tháng trời thuyền mới đến Hàng Châu vào một đêm trăng thanh gió mát. Hai người đem rượu ra mũi thuyền đối ẩm tâm sự Hoá Chiêu, t́nh thật, ngâm một câu thơ, lại ngậm một chén rượu ; Hiếu Sắc th́ cứ làm động tác giả, hắt rượu qua vai. Quá nửa đêm, Hoá Chiêu rụng, người mềm nhũn. Lúc bấy giờđám gia nhân dưới thuyền cũng đă ngủ saỵ Hiếu Sắc lôi Hóa Chiêu, xô xuống sông. Đôi ba lần Hoá Chiêu ngoai ngóp trồi đầu lên, Hiếu Sắc lại dùng sào d́m xuống cho đến khi mặt nước không c̣n sủi bọt nữa.

Không cần phải buôn bán chi, Hiếu Sắc cho thuyền quay về Tề Hàng ngay. Mẹ Hoá Chiêu và Tiểu Nga đau ḷng với nỗi bất hạnh, nhưng vần cảm kích Hiếu Sắc đă bỏ cả chuyến hàng lớn để vội vàng trở về báo hung tin.

Rồi sau đó, đều đều, Hiếu Sắc lui tới thăm viếng và cấp dưỡng cho mẹ Hoá Chiêu và cô vợ góa trẻ. Và lần nào nước mắt phú hộ hào phóng cũng đầm đ́a.

Người đời càng nể trọng hơn khi thấy Hiếu Sắc ân cần chăm sóc mẹ của Hoá Chiêu chu đáo hơn vợ bạn, khiến mẹ già cũng có phần đăm chiêu\

Ba năm sau, măn tang. Hiếu Sắc cho người đến thưa chuyện với mẹ Hóa Chiêu xin cưới Tiểu Nga lam vợ. Bà mẹ đă đăm chiêu nhiều, nên thuận t́nh ngay, khuyên nhủ con dâu nên bước thêm bước nữa.

Lương Tiểu Nga vốn là gái hiền thục, vẫn c̣n thương yêu người chồng vắn số, nhưng vẫn phải vâng lời mẹ chồng, tái giá.

Cưới được Lương Tiểu Nga rồi, Hiếu Sắc vẫn một mực chăm sóc mẹ Hoá Chiêu; bà cũng an ḷng nghĩ rằng con dâu ḿnh có được bóng mát cho cuộc đời c̣n lại.

Vợ chồng ăn ở vơi nhau được mười năm, sinh được hai mụn con. Đời sống an nhàn. Một đêm trăng vào hạ, vợ chồng ra ngồi hóng mát bên ao sen. Hiếu Sắc nhấm rượu, và ngấm rượu; Đương lúc đó, có con ếch nhảy lên một lá sen. Tiểu Nga đưa cây sào thọc cho con ếch nhảy đi. Sào thọc xuống th́ con ếch lặn, cất sào lên, nó lại trồi lên. Tiểu Nga phải thọc vào con ếch mấy lần nữa, nó mới chịu lặn ch́m mất.

Bất giác, Hiếu Sắc buột miệng ngâm:

"Hồi ức thập tam niên tiền sự
Huyên tợ hà mô lục thủy thờị.
Nhớ chuyện mươi ba năm trước đây
Mường tượng ngày nay ếch ngóp ngoai

Nghe lời thơ lạ, Tiểu Nga bảo chồng lập lại để ḿnh họa theo. Hiếu Sắc lè nhè đọc lại rồi cao hứng nói vợ lấy giấy bút cho ḿnh chép lại làm thủ bút. Thôi rồi, kẻ hào hiệp chung chăn gối với ḿnh mười năm nay, th́ ra là một kẻ nham hiểm thâm độc.

Không thể để cho Hoá Chiêu chết oan, Tiểu Nga đă nắ lấy vật chứng là hai câu thơ thủ bút của Hiều Sắc, đem đi tŕnh quan.

Bị bắt tra vấn, Hiếu Sắc khai hết sự thật câu chuyện hơn mười ba năm trước, v́ đă cuồng si nhan sắc của Lương Tiểu Nga nên đóng tṛ đạo đức, rồi bày mưu giết chồng đoạt vợ Trát Hiếu Sắc bị xử tội tử h́nh.

Đúng là sắc bất ba đào dị nịch nhân, nhan sắc đâu phải là sóng lớn mà cũng d́m chết người, hai người chồng đều phải tức tưởi ĺa đời.

Sắc đẹp là tội lỗi, nàng đă đến công đường, xin xử tội cái nhan săc nàỵ Nhưng luật pháp có bao giờ lại tử h́nh một hồng nhan. Có chăng th́ lạ ǵ bỉ sắc tư phong, hồng nhan phải tự mang lấy cái nghiệp chướng đa truân.

> Điển Tích Truyện Kiều - Băng Nhân
Sự ḷng ngỏ với băng nhân
Tin sương đồn đại, xa gần xôn xao

Băng nhân, người mối lái chuyện cưới hỏi, gả bán, từ một điển tích đời Tấn:

Văn nhân Linh Hồ Sách nằm mơ thấy ḿnh đứng trên băng tuyết nói chuyện với một người lạ nằm dưới băng tuyết. Linh Hồ Sách đem chuyện năm mơ của ḿnh thuật lại cho Sách Thẩm, một người rất giỏi về thuật số. Sách Thẩm giải mộng:

- Băng thượng nhân ngữ băng hạ nhân, tức là dương nói chuyện với âm. Điềm này tất có chuyện mai mối đây. Vậy nếu có ai nhờ tiên sinh se duyên, th́ cứ nhận lời. Đến khi băng tan, th́ lương duyên thành.

Mấy hôm saụ Linh Hồ Sách đưọc Điền Báo nhờ làm mối lái xin hỏi cưới con gái của Trương Công Vị. Linh Hồ Sách nhận làm mai và được Trương Công Vi đồng ư. Quả đúng, đến mùa xuân, khi băng tan hết th́ hôn lễ của Điền Báo với con gái Trương Công Vi được cử hành.

Điển Tích Truyện Kiều - Bảy Chữ, Tám Nghề
Này con thuộc lấy làm ḷng
Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề
Chơi cho liễu chán hoa chê
Cho lăn lóc đá cho mê mẩn đời
Khi khóe hạnh, lúc nét ngài
Khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười cợt hoa
Điều là nghệ - nghiệp trong nhà
Đủ ngần ấy nết mới là làng chơi

Theo truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc): Tú bà hỏi Kiều: Tiếp khách thế nào mới lưu được khách?. Kiều trả lời: ngủ với ngướ ta chớ ǵ?; Tú bà giẫy nẫy: con này mới ngu làm sao ! Nếu con gái nhà thổ cũng như con gái nhà lương gia th́ ai buồn chơi. Nghề chơi ở trong c̣n lắm điều hay, khi khách lên giường, th́ mày nhường khách nằm trong, mày nằm ngoài, ngoảnh mặt lại chầu khách; tay khách tất sờ vào ḿnh mày, mày phải sờ hạ thể khách..

Bảy chữ vành ngoá là:

1. Khốc: khóc lóc giả bộ thương yêu, khách quyến luyến không rời được

2. Tiễn: cắt tóc mày và tóc khách, se vào nhau; mỗi người buộc vào cánh tay như thề nguyện kết tóc se tơ.

3. Thích : khi đă thỏa thê t́nh dục rồi, lấy kim chích tên của khách lên cánh tay hay đùi mày, lấy mực xoa vàọ Khách sẽ trút hết tiền v́ nghĩ rằng mày đă chết mê chết mệt nó, mới xăm tên nó lên thân thể mày như vậỵ Khách sau đến, trông thấy ắt phải nghĩ rằng: không biết người đi trước đăi mày thế nào mà mày yêu đến thế. Tất nhiên sau đó sẽ hậu đăi mày để được ḷng mày, yêu hơn người trước. Nhân thể phải biết chau mày, nói: khách đi trước đă tiêu phí không biết bao nhiêu tiền mới được lạc thú tuyệt đỉnh, do đó mới xăm tên, nay muốn được thích thú hơn, tất nhiên phải quăng tiền cho mày.

4. Thiêu: là khổ nhục kế, hai đứa đều chích máu trong người ra để thề, phỏng gặp thằng ngu, mày cùng nó đốt huơng thề, như thế th́ nó táng gia bại sản cũng đáng đời.

5. Giá: dùng mẹo để lừa, cứ như mong được làm vợ, suốt ngày chỉ nói chuyện mơ ươc về nhà chồng và các điều thề thốt. Hễ nó đă mê, tự nhiên bỏ của ra; tiền đă hết rồi, nó muốn cưới, mày giả đau không dậy, thế th́ chẳng phải đợi mày đuổi, nó tự động cũng cút xéo.

6. Tẩu: khách chơi đă hết của, mày phải đuổi nó ra khỏi cửạ Nếu nó vẫn đeo, th́ vờ hẹn nó đến một nơi nào đó, rồi nắm áo lại, dọa sẽ tri hô lên cho quan đến bắt kẻ lưu manh có ư cưỡng bức màỵ Tự khắc nó phải bỏ mày.

7. Tử: dẫu biết nó có vợ có hầu, mày vẫn thế thốt sống chết nếu không được sống chung th́ tự vẫn; vậy nó có tiêu pha hết của cho mày th́ cũng phải.

Bảy chữ mới chỉ là mánh khóe bên ngoài để dụ dỗ khách. C̣n khi hành lạc, th́ vành trong phải đủ tám nghề:

1. Với khách có hạ thân nhỏ th́ dùng phép "đánh trống giục hoa" (kích cổ thôi hoa).

2. Với khách có hạ thân lớn th́ dùng phép "sen vàng khóa xiết" (kim liên song tỏa).

3. Nếu khách hối hả, lụp chụp th́ dùng phép "mở cờ đánh trống" (đại chiến kỳ cổ)

4. Nếu khách khoan thai th́dùng phép "đánh chậm gơ sẽ" (mạn đả khinh sao)

5. Với người mới " vỡ ḷng "th́ dùng phép "ba bậc đổi thế" (khẩn thuyên tam trật).

6. Gặp khách sành sỏi th́ dùng phép "tỏa tâm truy hồn"

7. Gặp khách tay ngang t́ dùng phép "tả chi hữu ch́"

8. Đối với khách đam mê nhan sắc th́ dùng phép "dềnh dàng hớp vía" (nhiếp thần phiến tỏa).

Điển Tích Truyện Kiều - Bể Dâu
Mở đầu Truyện Kiều:
Trăm năm trong cơi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn ḷng

Bể dâu là biển cả và băi dâu, dịch nghĩa từ câu Thương hải tang điền , nói về những biến động đổi thay trong vũ trụ, trong đời sống con người.

Nhân sanh bách tuế chi kỳ. đời sống con người hữu hạn trăm năm, Nguyễ n Đu đă diễn ra thơ nôm :
Trăm năm trong cơi người ta.

Trong Thần tiên truyện có viết: tam thập niên vi nhất, thương hải biến vi tang điền nghĩa là cứ ba mươi năm một lần vũ trụ lại chuyển hóa, biển cả hóa thành nương dâu, nương dâu hóa thành biển cả .
Chu kỳ 30 năm một lần. biển cả c̣n biến thàn h ruộng đất huống chi con người chỉ là hạt bụi trong vũ trụ của tạo hóa, th́ sự chuyển dịch từ cơi này qua cơi khác, vận này qua vận kia là chuyện b́nh thường, sông có khúc, người có lúc.
Điển Tích Truyện Kiều - Bố Kinh
Đă cho vào bậc Bố kinh
Đạo ṭng phu lấy chữ trinh làm đầu

Bố kinh là hai chữ thu ngắn, Bố quần là chiếc quần bằng vải, kinh thoa là cái trâm cài đầu bằng gaị Bố kinh lấy từ chuyện Lương Hồng Mạnh Quang trong sách Di Uyển của Trung Quốc:

Lương Hồng là một hàn sĩ ơ Giang Nam, nhà nghèo xơ xác, hiếu học, trọng đạo đức nhân nghĩạ Nhiều người rất cảm phục nhân cách của chàng , trong đó có một phú hộ thật tâm muốn t́m cách giúp đỡ . Lần đầu tiên t́m đến gặp Lương Hồng, phú hộ muốn tặng chàng hai gói chè quí ngọn hái từ đỉnh núi Vũ Di . Lương Hồng nhẹ nhàng thưa:

- Nếu có ǵ cần dạy bảo xin ngài vui ḷng chỉ giáo, c̣n lễ vật ngài cho tôi xin được phép từ chối.

Phú hộ đành cầm lễ vật ra về, trong ḷng nghĩ hay là chàng nho sĩ kia v́ nghĩ phận ḿnh nghèo hèn không dám giao tiếp với người giàu sang như ta. Nghĩ vậy nên ít ngày sau, phú hộ lại t́m đến, chân đi giày cỏ, cẩn thận buộc ngưa từ ngoài xa. Trong lều tranh, Lương Hồng vẫn mải mê đọc sách; phú hộ kiên nhẫn chắp tay đứng đợi ngoài sân. Sau mấy canh giờ, Lương Hồng chợt gấp sách, nh́n ra ngoài, trông thấy vị khách đang đứng chờ. Chàng cung kính mời vào. Lần này phú hộ chỉ xin tặng một gói trà ngang, nhưng bên trong lại có mấy nén vàng, gọi là chút tiền độ nhật cho hàn sĩ. Lương Hồng nhất mực từ chối:

- Nếu ngài có ư coi trọng kẻ hèn nay th́hăy cư xử nhau bằng t́nh nghĩa; xin bảo trọng t́nh nghĩa trong sáng này, đừng để lễ vật làm hoen ố đi.

Phú hộ lại phải đem lễ vật về và vẫn không nghĩ ra cách ǵ để giúp đỡ con ngướ liêm khiết này. Và không những chỉ có phú hộ này, nhiều danh gia khác cũng nghe tiếng thơm Lương Hồng, muốn muốn đem gả ái nữ chọ Trong số này, có nhà họ Mạnh, gịng dơi nho gia, giàu có mấy đời, có tiểu thư Mạnh Quang, sắc nước khuynh thành, vương tôn công tử gần xa đều ngấp nghé. Nhà họ Mạnh chủ động muốn nhận Lương Hồng làm rể. Lương Hồng cũng nghe tiếng gia đ́nh họMạnh tuy giàu có, nhưng nổi tiếng mấy đời lương thiện, nên bằng ḷng kết nghĩa trăm năm với nàng Mạnh Quang.

Ngày hợp hôn, Mạnh Quang muốn làm đẹp ḷng chồng, trang điểm má phấn tô son, xiêm y lộng lẫy, vàng ngọc sáng ngờị Nào ngờ, trông thấy tân nương rực rỡ như vậy, tân lang lại tiu nghỉu, suốt bảy ngày đêm ủ ê không buồn động pḥng hoa chúc. Thoạt đầu, Mạnh Quang đă quá lo âu, không hiểu ḿnh đă lời ăn tiếng nói như thế nào để chàng phải phật ư; cuối cùng th́ nàng cũng nghĩ ra và đă vất bỏ hết các xiêm y, trang sức sặc sỡ đó, mà chỉ mặc quần áo vải và đầu cài thoa gai đến bên chồng. Đến đây, Lương Hồng mơi bật lên mừng rỡ, ôm chầm lấy tân nương:

- Đây mới thật là vợ của Lương Hồng. Trong phú quư', giàu sang, thường người ta không giữ được nhân nghĩạ Ta chỉ muốn sống trong thanh bần, tự ḿnh cày ruộng mà ăn, dệt vải mà mặc, cuộc sống đạm bạc nhưng vợ chồng luôn có nhau, tương kính nhau.

Người đời sau lấy chữ Bố kinh trong điển tích này để nói đến các bà vợ hiền thục.

Trong truyện Kiều, khi giai nhân vượt thành lễ giáo t́m đến thư pḥng Kim Trọng trong đêm. Đă có lúc, chàng Kim ra chiều lả lơị Kiều khoan nhặt ..

Thưa rằng: đừng lấy làm chơi
Giả chưa hết một lời đă nao
Vẻ chi một đóa yêu đào
Buồng hồng chi dám ngăn rào chim xanh
Đă cho vào bậc Bố Kinh
Đạo ṭng phu lấy chữ trinh làm đầu
Ra tuồng trên bộc trong dâu
Th́ con người ấy ai cầu làm chi.

Điển Tích Truyện Kiều - Cầm Đài (Bá Nha Tử Kỳ)

Rằng nge: Nổi tiếng cầm đài
Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ

Cầm đài: cái đài để Tư Mă Tương Như ngồi gảy đàn. Tri âm: hiểu biết nhau qua tiếng nhạc; từ chuyện Tử Kỳ tri âm Bá Nha thời Chiến Quốc, tri âm đă là nghĩa chung của một t́nh bạn thiết thân, thông hiểu được ư nhau.

Theo sách Lă thị xuân thu: "Bá Nha cổ cầm, Chung Tử Kỳ tại ngoại thiết tính chi viết: nguy nguy hồ như thái sơn, dương dương hồ như lưu thủy" (Bá Nha gảy đàn, Chung Tử Kỳ ở ngoài nghe trộm , khen rằng: ngun ngút như núi Thái Sơn, cuồn cuộn như ḍng nước chảy.

Vào lúc Tấn, Sở đang giao hảo nhau. Bá Nha là người nước Sở, nhưng lại làm quan đến chức Thượng đại phu của nước Tấn. Bá Nha nổi tiếng là một khách phong lưu văn mặc, lại có ngón đàn tuyệt diệu nhất đời; ngày liền đêm, Bá Nha không bao giờ rời cây Dao cầm thiết thân của ḿnh.

Năm ấy, trên đường từ Sở về lại Tấn sau sau chuyến công cán, Bá Nha cho thuyền đỗ lại bến Hàm Dương vào một đêm trăng thanh gió mát. Bá Nha cho đồng tử đốt lư trầm trước thuyền, rồi lấy Dao cầm ra so phi'm thử dâỵ Dưới ánh trăng trong, tiếng đàn quyện lấy hương trầm đang cất vút lên cao giữa đêm thu thanh vắng, bỗng một tiếng " bựt " khô khan, dây tơ đồng đứt. Bá Nha nghĩ dây đàn đứt ắt có quân tử nào nghe lén đây, bèn sang sảng cất tiếng:

- Có cao nhân nào trên bờ lắng nghe tiếng đàn của tại hạ, xin vui ḷng ra mặt.

Từ trên vách núị có tiếng vọng xuống:

- Xin đại nhân thứ lỗi cho, tiểu dân này đi kiếm củi về muộn, đi ngang qua đây, nghe tiếng đàn tuyệt diệu quá, nên cất bước đi không đành.

Bá Nha cười lớn:

- Tiều phu nào mà lại dám nói chuyện nghe đàn với ta?.

Tiếng nói từ trên núi lại đáp lại:

- Đại nhân nói vậy, kẻ hèn này trộm nghĩ là không đúng. Há đại nhân không nhớ câu nói của người xưa: "Thập nhất chi ấp tất hữu trung tín" (Trong một ấp có mười nhà ắt có người trung tín). Hễ trong nhà có quân tử th́ ngoài cửa ắt có người quân tử đến...

Bá Nha có vẻ ngượng khi nghe câu nói của người tiều phu. Biết ḿnh lỡ lời, ông tiến sát đến mũi thuyền nói lớn:

- Nếu thật là người trên bờ biết nghe đàn, th́ xin cho biết lúc năy tại hạ đă đàn khúc ǵ?.

Giọng trên bờ b́nh thản vọng xuống:

- Đó là Khổng Vọng Vi, Đức Khổng Tử khóc thầy Nhan Hồi. Hồi năy, đại nhân đang đàn th́ đứt dây, nên c̣n thiếu mất câu chót.

Nghe xong, Bá Nha thấy ḷng phơi phới lạ, vội sai tùy tùng lên bờ rước người tiều phu xuống thuyền. Bá Nha trân trọng đón tiếp:

- Quư hữu biết nghe đàn, vậy chắc cũng rơ được xuất xứ của cây Dao cầm?

Tiều phu không ngập ngừng:

- Nghe nói, thuở xưa vua Phục Hy t́nh cờ trông thấy có năm sắc sao rơi xuống cụm ngô đồng và chim phượng hoàng đến đó đậụ Vua biêt cây ngô đồng là thứ gỗ quư, hấp thụ tinh hoa của trơi đất, có thể dùng để làm nhạc khí được, liền cho người hạ cây, cắt làm ba đoạn Đoạn ngọn, tiếng quá trong và nhẹ, đoạn gốc tiếng đục và nặng, chỉ có đoa,n giữa tiếng vừa trong vừa đục. có thể dùng được. Nhà vua cho ngâm đoạn giữa thân cây giữa ḍng nươc, đúng bảy mươi hai ngày đêm, vớt lên phơi trong mát cho thật khô rồi gọi người thợ giỏi Lưu Tử Kỳ đẻo thành cây Dao cầm. Dao cầm dài ba thước sáu tấc, một phần án theo ba trăm sáu mươi mốt độ chu thiên, mặt trước rộng tám tấc, án theo tám tiết, mặt sau rộng bốn tấc án theo bốn mùa, bề dày hai tấc án theo lưỡng nghị Đàn gồm mười hai phi'm, tượng trưng cho mười hai tháng trong năm , lại có thêm một phi'm phụ tượng trưng cho tháng nhuận. Đàn có năm dây án theo ngũ hành tượng trưng cho năm âm: cung, thương, giốc, thủy, vũ. Xưa, vua Thuấn gảy đàn Ngũ huyền, thiên hạ thái b́nh. Khi vua Văn Vương bị ngồi tù nơi DũLư, Bá Âp Khảo thêm một dây oán, gọi là văn huyền (dây văn). Về sau, khi VũVương đánh nước Trụ, thêm môt dây nữa gia tăng kích động gọi là vũ huyền (dây vũ). Do đó, Dao cầm lúc đầu có năm dây, sau có bảy dâỵ Dao cầm có bốn điều kỵ là: rét lớn, nắng lớn, gió lớn và tuyết lớn; và bảy điều không nên là: không đàn ở đám tang, không đàn lúc ḷng rối loạn, không đàn lúc ḷng không thanh bạch, không đàn lúc bận rộn nhiều việc, không đàn lúc y trang không chỉnh tề, không đàn lúc không có trầm hương và không đàn lúc không có bạn tri âm.

Bá Nha nghe nói, biết tiều phu là bậc kỳ tài, đem ḷng kính thương:

- Hiền hữu quả là người tinh thông nhạc lư. Xưa kia, Khổng Tử đang gảy đàn, thầy Nhan Hồi bước vào, nghe thanh âm sao mà u trầm, biết là trong tâm Khổng Tử đang giao động . Hỏi ra, mới hay là trong khi Khổng Tử đàn, thấy con mèo đang bắt chuột, nên tâm tư đă chùng tiếng tơ đồng. Trước kia, Nhan Hồi nghe tiếng đàn mà biết được ḷng học tṛ, c̣n ngày nay, nghe tiếng đàn Bá Nha này , hiền hữu có biết ḷng ta đang tư lự ǵ không?

- Xin đại nhân cho nghe một vài khúc nhạc nữa
Bá Nha thay dây đàn, gảy khúc Ư tại non cao.

Tiều phu ngẩng mặt mỉm cười:

- Tuyệt thay, ư chí cao vút. Ư tại non cao.

Bá Nha giật ḿnh ngưng đàn. Một lúc sau gảy thêm khúc Ư tại lưu thủy.

Tiều phu khua tay xuống ḍng nước:

- Trời nước bao lạ. Ư tại lưu thủy.

Bá Nha thất kinh, nh́n người tiều phu không ngớt mắt, sao lại có người cảm thấu được tiếng đàn của minh như vậỵ Ông sai nguời hầu dẹp trà, bày tiệc rưọụ Xong, ông đứng lên trước mặt người tiều phu, kính cẩn hỏi:
- Dám hỏi tiên sinh quư danh và quê quán.

Tiều phu vội đứng lên, chắp tay thi lễ:

- Tiện dân họ Chung, tên Tử Kỳ, người thôn Tập Hiền gần núi Mă Yên nàỵ C̣n đại nhân, chẳng hay cao danh quư tánh là ǵ, hiện đi trấn nhậm nơi đâu mà ghé thuyền lại đây văng cảnh.

- Tại hạ họ Du tên Thụy, là Đại phu nuớc Tấn, nhân đi sứ nước Sở về, thấy cảnh Hàm Dương trăng thanh gió mát, nên ghé thuyền thưởng lăm. Tại hạ chỉ là một kể tài hèn đức bạc mà thôị C̣n như tiên sinh đây học thức uyên bác cớ sao không xuất thân lập công danh, pḥ vua giúp nước, mà lại sống ẩn dật chốn núi non hẻo lánh này.

- Tôi c̣n cha mẹ già, không có anh em, phận làm con phải lo tṛn chữ hiếu, dẫu cho công hầu khanh tướng cũng không thể đổi được một ngày báo hiếu của tại hạ

Tử Kỳ hai mươi bảy tuổị Bá Nha trân trọng nói:

- Tiện chức hơn tiên sinh những mười tuổị Nếu tiên sinh không chê tôi đức mọn tài hèn th́ xin kết làm anh em để khỏi phụ duyên tri âm.

Chung Tử Kỳ khiêm nhượng đáp:

- Đại nhân là bậc công khanh nơi triều đ́nh, tại hạ là kẻ áo vải chốn sơn lâm th́ làm sao kết bạn với nhau được, xin đại nhân miễn cho.

- Giá trị con người đâu ở chỗ giàu sang phú quư, mà ở đức hạnh tài năng. Nay nếu tiện sinh chịu nhận làm anh em th́ thật là vạn hạnh cho tiện chức.

Bá Nha đă có thành tâm, Tử Kỳ không từ chối nữa.. Bá Nhà sai người hầu đốt ḷ hương mới, lập hương án trước thuyền, cùng Tử Kỳ lạy trời đất tám lạy, nhận nhau làm anh em khác họ Rồi hai bạn cùng đối ẩm chuyện tṛ với nhau rất chi là tương đắc.

Đến lúc ánh trăng nhạt nḥa, tiếng gà eo óc gọi ánh nắng mai, đoi bạn đành phải chia taỵ Bá Nhà giọng run run, nh́n Tử Kỳ:

- Ḷng huynh quá cảm mộ, chưa nỡ rỡi hiền đệ Hiền đệ có thể cùng huynh đi thêm một đoạn đường để thêm đước một khúc chuyện tṛ cho thỏa mối tâm t́nh.

Chung Tử Kỳ cũng không dấu được xúc động:
- Theo lễ, tiểu đệ phải tiễn hiền huynh vài dặm đường mới phải, ngặt v́ song thân của tiểu đệ đang trông ngóng ở nhà, xin hiền huynh thứ lỗi.

- Vậy th́ hiền đệ về nhà xin với song đường qua nước Tấn thăm chơi, chắc là sẽ được nhận lời.

"Phụ mẫu tồn , bất khả viễn du", làm sao Tử Kỳ có thể rời cha mẹ để vui chơi cùng bạn đươ+.c. Cuối cùng, Bá Nha nắm tay Tử kỳ, giọng khẩn thiết:

- Sang năm, cũng vào giờ này, xin hẹn hiền đệ tại đây.

Rồi lấy ra hai nén vàng, hai tay dâng cao lên trước mặt:

- Đây là món lễ vật mọn của ngu huynh làm quà cho bá phụ, bá mẫu, đă xem nhau là cốt nhục xin hiền đệ chớ từ chối.

Cảm t́nh tri ngộ, Tử Kỳ không từ chốị Lưu luyến chia tay, đôi bạn bịn rịn không thốt lên nỗi lời tạm biệt.

Thấm thoắt một năm qua, ngọn gió heo may từ phương Bắc về đem mùa thu đến. Bá Nha vào triều kiến vua Tấn xin được phép về Sở thăm quê nhà. Thuyền đến bến Hàm Dương, Bá Nha cho dừng lại dưới núi Mă Yên. Ḷng bồn chồn trông ngóng. Vừng kim ô đă ngả bóng xuống ḷng sông, khói sóng dâng lên nghi ngút, sao măi vẫn không thấy bạn tri âm. Bá Nha cho đồng tử đốt ḷ hương, rồi lấy Dao cầm đàn một khúc. Trong cơn gió nhẹ đầu thu, Bá Nha bỗng nghe tiếng đàn của ḿnh sao mà ai oán, năo nùng. Bá Nha thất kinh, ngừng tay đàn, tâm thần rối bời ; cung thương bỗng nghe sầu thảm như thế này th́ chắc là Chung Tử Kỳ gặp nạn lớn rồị Cả đêm, Bá Nha trăn trở, nhớ thương và âu lo cho bạn. Trời chưa sáng, Bá Nha đă khoác cây Dao cầm lên lưng, bỏ vào túi mười nén vàng ṛng rồi cùng vài tên hầu t́m đến chân núi Mă Yên . Dọc đường. gặp một ông lăo, tay xách giỏ mây, tay cầm gậy trúc. Bá Nha lễ phép thưa:

- Xin lăo trượng chỉ đường đi đến Tập Hiền thôn.

- Có Tập Hiền thông thượng, Tập Hiền thôn hạ. Tiên sinh cần đến thôn nào ?
- Thưa lăo trượng, ngư+ời Tử Kỳ họ Chung ở thôn nào?

Vừa nghe nhắc đến tên Chung Tử Kỳ, lăo ông sa sầm nét mặt, đôi mắt trũng sâu chảy dài hai hàng lệ. Lăo ông sụt sùi, giọng ngắt đoạn:

- Chung Tử Kỳ là con lăo. Năm ngoái cũng vào ngày này, nó đi củi về, gặp một vị quan nước Tấn tên là Bá Nha và kết nghĩa huynh đệ v́ chỗ đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Lúc chia tay, vị quan có tặng cho vợ chồng lăo hai nén vàng. Ở nơi núi non heo hút thế này, vợ chồng lăo chưa cần đến số vàng đó, nên con lăo đă dùng đổi lấy sách, đọc bất kể ngày đêm, giờ giấc , ngoài việc đốn củi mưu sinh. Có thể v́ quá lao nhọc, con lăo đă lâm bệnh mà qua đời...

Chưa kịp nghe hết lời, Bá Nha đă bật ̣a khóc, ôm chầm lấy ông lăo, hậu sinh này chính là người bạn kết giao của Chung Tử Kỳ đây. Ông lăo thảng thốt, trời ơi:
- Mang ơn đại nhân không chê trách cảnh bần cùng, đă cùng con lăo kết nghĩa tâm giao. Lúc lâm chung, con lăo đă trối trăn lại: " Sống không trọn đạo làm con, chết xin được chôn dưới chân núi Mă Yên để trọn đạo nghĩa với bạn, nằm bên triền dốc chờ đúng lời hẹn mùa thu này" Con đường mà đại nhân vừa đi quạ phía bên phải có nấm đất nhỏ là ngôi mộ của Tử Kỳ. Hôm nay đúng một trăm ngày mất, lăo vừa đi viếng mộ con về th́ gặp đại nhân.

Trước mộ Tử Kỳ, Bá Nha vừa lạy bạn xong, truyền đem đàn đến, ngồi trên tảng đá tấu khúc "Thiên thu trương hận". Tiếng đàn đang réo rắt bỗng trầm hẳn xuống. Tiếng gió ngàn rít mạnh, bầu trời trở màu tối sẩ?m và tiếng tiếng chim từ xa vọng vềnghe u uất năo nùng. Bá Nha ngưng đàn. Gió ngừng rít, trời trong sáng trở lại, chim ai oán lặng tiếng. Bá Nha nh́n Chung lăo thưa:

- Tử Kỳ đă về đây chứng giám cho ḷng thành của tiểu sinh. Cháu vừa đàn khúc đoản ca để viếng người tri âm tài hoa mệnh yểu, và xin đọc thành thơ đoản ca này:

Ức tính khi niên xuân
Giang thượng tằng hội quân
Kim nhật trùng lai phỏng
Bất kiến tri ân nhân
Đản kiến nhất phân thổ
An nhiên thương ngă tâm
Bất giác lệ phân phân
Lai hoan khứ hà khổ
Giang ban khởi sầu vân.
Tử Ky, Tử kỳ hề !
Nhĩ, ngă thiên kim nghĩa
Lịch tận thiên nhai vô túc ngữ
Thử khúc chung hề bất phụ đàn
Tam xích Dao cầm vị quân tử
(Từ nhớ đến muà thu năm trước
Bến trường giang gặp bạn cố nhân
Năm nay lại đến Giang Tân
Gịng sông lạnh ngắt cố nhân đâu rồi
Buồn chỉ thấy nấm mồ bên núi
Cơi ngàn năm chia cắt đau ḷng
Ôi thương tâm, ôi thương tâm
Sụt sùi lai láng bao hàng lệ rơi
Mây sầu thấp thoáng chân trời
Đêm vui đổi lấy một đời khổ đaụ
Tử Kỳ ơi, Tử Kỳ ơi
Ngàn vàng khôn chuộc được bầu tâm can
Thôi từ nay, thôi phi'm đàn
Ngàn thu thôi hết mơ ṃng cố nhân...)

Lời thơ vừa dứt, Bá Nha nâng Dao cầm lên cao, đập mạnh xuống tảng đá. Dao cầm vỡ tung từng mănh, trụ ngọc, phi'm đồng rơi lả tả. Lăo ông hoảng kinh, sao đại nhân lại đập vỡ đàn quí. Bá Nha đáp lời bằng bài thơ tứ tuyệt:

Thốt đoái Dao cầm phượng vĩ hàn
Tử Kỳ bất tại, hướng thùy đàn ?
Xuân phong măn diện giai bằng hữu
Dục mịch tri âm, nan thượng nan
(Dao cầm đập nát đau ḷng phượng
Đă vắng Tử Kỳ đàn với ai
Gió xuân bốn phía bao bè bạn
Khó thay t́m được bạn tri âm

Bốn câu thơ là bài văn tế cho bạn. Bá Nha quay lại phía lăo ông, sụp quỳ xuống:

- Bá Kỳ Tử Nha đă y lời hẹn đến đây rồị Nay tiểu sinh có đem theo ít nén vàng, xin thành tâm dâng lên bá phụ cùng bá mẫu để cung dưỡng tuổi già và tạo mươi mẫu ruộng làm tự cho Tử Kỳ. Bốn năm nữa hạ quan sẽ dâng biểu từ quan, về đây chung sống với bá phụ bá mẫu, với người bạn tri âm.

Chung lăo không từ chốị Bá Nha lạy Chung lăo, lạy tạ từ bạn rồi quay xuống cho thuyền nhổ sào, trở về nước Tấn.
Điển Tích Truyện Kiều - Chàng Tiêu

Có điều chi nữa mà ngờ
Khách qua đường để hững hờ chàng Tiêu

Hững hờ chàng Tiêu chuyện được ghi trong sách T́nh sử Trung Quốc:

Thời Khai Nguyên nhà Đường, có chàng Tú tài Thôi Giao, văn tài trác tuyệt, nhưng thế cô, nhà lại nghèo xơ xác nên khó bề lập thân. Tuy vậy chàng Tú vẫn thiết tha yêu đời v́ có người yêu Lục Châu, một dung nhan kiều diễm đang tuổi trăng tṛn, giỏi thi phú, đàn ca xướng hát.

Gia cảnh Lục Châu cũng vào thuộc loại bần hàn, nên nàng phải làm thị tỳ cho người cô của Thôi Giao. Cũng là một cơ may để cho đôi lứa có nơi chốn mà t́nh tự. Bà cô cũng có ư muốn tác hợp cho hai trẻ, nên cô gắng buôn bán vài chuyến lớn kiếm lăi, tổ chức hôn lễ đàng hoàng và cho đôi tân hôn chút của hồi môn.

Chẳng may, chuyến buôn này rồi chuyến buôn khác cứ bị lỗ lă nặng. Gia sản bà sa sút quá nhanh chóng, rồi sinh nợ chồng chất. Đường cùng, để khỏi bị con nợ tịch biên nhà cửạ bà cô phải bán Lục Châu cho quan Liên súy Vũ Địch, giá bốn mươi vạn tiền.

Vậy là từ đó, đôi uyên ương như chim cụt cánh, như cây cụt cành.

Quan Vũ Địch đưa nàng Lục Châu vào dinh nhưng vẫn không làm điêù chi sỗ sàng quá đáng. C̣n chàng Thôi Giao th́ lang thang thất thểu đó đây, tự đặt tên cho ḿnh là Tiêu Lang. Nhưng dù có nghêu ngao ở đâu, sáng nào chàng ta cũng đứng ngấp nghé ngoài cổng dinh phủ, mong được nh́n thấy người yêu. Nhưng mỗi lần may mắn gặp mặt, Tiêu Lang lại phải nén ḷng, quay mặt đi nơi khác, làm ra vẻ hờ hững. Lục Châu cũng bị xé nát tâm cang, cắn răng cúi đầu, lẫm lũi bỏ đi. Giọt châu lă chă khôn cầm.

Một hôm, vào tiết hàn thực trời rét như cắt, Lục Châu có việc ra ngoài, phải mặc đến hai áo bông; nàng chợt trông thấy Tiêu Lang đứng dưới gốc liễu rũ, thân thể gầy g̣ run rẩy trong trong chiếc áo rách mỏng manh. Không cầm ḷng được, nàng chạy đến ôm chầm lấy chàng. Thôi th́ tha hồ mà khóc, kể lễ nỗi nhớ thương. Lâm ly lắm rồi cũng phải ngậm ngùi chia tay. Lục Châu choàng áo bông ôm ấp hơi ấm cho chàng. Thôi Giao cỡi chiếc áo rách lổ chổ, viết lên đó mấy câu thơ tặng nàng:
" Công tử vương tôn trực hậu trần
Lục Châu thúy lệ thấu la cân
Hầu môn nhất nhập thâm như hải
Ṭng thử Tiêu Lang thị lộ nhân "
Ngô Tất Tố dịch:
Theo chân bao kẻ ngộp mùi hương
Tầm tă khăn the lệ mấy hàng
Một tới cửa hầu sâu tợ biển
Chàng Tiêu từ đó khách qua đường.

Lục Châu ôm thơ về, đêm đêm gối đầu chờ mộng.

Trong phủ Liên Súy Vũ Địch có một tên hầu, ngày trước đă từng rắp' tâm bắn sẻ Lục Châu, nhưng đâu được toại nguyên, nên sinh thù ghét. Gặp dịp may đưa đến, hắn trộm chép bài thơ, dán gần cửa thư pḥng Vũ Địch. Quan đọc được thơ, tra hỏi kẻ hầu người hạ, biết được tác giả là Tiêu Lang Thôi Giao. Vũ Địch cho lính truy t́m, đưa được Thôi Giao vào phủ đường. Tiêu Lang nghĩ rằng mạng sống sắp tiêu tùng, nhưng dù có được chết v́ t́nh, cũng không khỏi run sợ. Nhưng khi tiếp kiến Vũ Địch, quan không bắt qú chịu tội, mà lại chỉ ghế mời ngồi. Quan bước lại gần, cầm lấy tay Tiêu Lang, cười độ lượng:

- Một tới cửa hầu sầu tợ biển, Chàng Tiêu từ đó khách qua đường. Hai câu thơ này hẳn làcủa Tiêu Lang rồi. Từ lâu ta vẫn nghe danh Tú tài Thôi Giao tài hoa. Nhưng chỉ v́ tội nghèo mà không tiến thân được, lại không giữ được người yêu. Sá ǵ bốn mươi vạn tiền mà ta phải làm tan nát một mối t́nh.

Vũ Địch cho người hầu chuẩn bị một số tiền bạc, nữ trang và mộ t cổ xe ngưa, rồi cho mời Lục Châu:

- Nay ta ban tặng cho người con gái thủy chung chút vốn liếng và lễ vật. Nàng hăy lên xe cùng với Thôi Giao, về quê cũ xây tổ ấm.

Điển Tích Truyện Kiều - Đào Nguyên

Chào mừng , đón hỏi ḍ la
Đào Nguyên lạc lối đâu mà đến đây

Đào nguyên là gốc đào, có người c̣n gọi là động đào nguyên hoặc động bích (động xanh).

Đời nhà Tấn có nhà thơ Đào Tiềm, tức Nguyên Lượng Đào Uyên Minh. Trong những bài thơ của ông, được truyền tụng nhất là hai bài Quy khư lai từ và Đào Nguyên kư, được kể thành chuyện:

Đời nhà Tấn , tại huyện Vơ Lăng có một lăo chài, đánh cá dọc theo khe núị Một hôm đang chèo thuyền đánh cá, ông thấy một đóa hoa đào trôi từ khe núi rạ Ông nghĩ:

- Hoa đào trôi ra từ nơi phát nguyên, chứng tỏ ở đầu nguồn có dân cư và nơi ấy có trồng nhiều hoa quí, nhất là anh đào.

Ông lăo chèo thuyền ngược ḍng nước để t́m chốn đào nguyên. Thuyền đi măi, chỉ thấy rừng núi xanh mướt, lăo ông không nản. Sau cùng cũng t́m đến được một nơi dân cu khá đông, đời sống an nhàn và có trồng nhiều loài hoa quí, nhất là hoa đào.. Lăo ông đi sâu vào xóm th́ thấy ở đây vườn đào san sát, đúng là một động đào. Dân sống trong các vườn đào đều ăn mặc theo y phục kiểu nhà Tần, thời Chiến quốc. Thật là một điều lạ, ở nơi rừng sâu núi cao lại có một vùng dân cư, cuộc sống đă có từ lâu đời mà không ai biết. Hỏi ra mới hay: họ vốn là những người nước Tần, nhưng không chịu được chế độ hà khắc của Tần Thủy Hoàng và tướng Ly Tư nên kéo nhau di cư lên đây đă mấy đời. Con ngườ sống ơ" đây thật khả ái, thanh thản. Lăo ngư ông lưu lại ít ngày, rồi xuôi ḍng trở làng cũ, thuật lại mọi điều ḿnh đă trông thấy nơi đào nguyên.

Thời gian sau, lăo ông rời bỏ quê ḿnh, ngược ḍng t́m đến đào nguyên. Những đào nguyên trước, không c̣n t́m thấy đâu nữa.

Hay đây là cảnh tiên. Từđó người đời sau dùng chữ đào nguyên để chỉ nơi tiên cảnh .

Điển Tích Truyện Kiều - Đỉnh Giáp Non Thần

Bâng khuâng đỉnh Giáp, non Thần
C̣n ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.

Đỉnh Giáp là núi Vu Giáp; non Thần là núi Thần Châu.

Thời Chiến quốc, một hôm vua Sở Tương Vương cùng Tống Ngọc đến văng cảnh vùng Cao Đường, ở đó có đầm Vân Mộng dưới chân núi Vu Giáp. Nhà vua nh́n lên lưng núi thấy mây ngùn ngụt luôn thay đổi h́nh dạng, lúc dồn dập dày đặc, khi tan loăng như mây trời. Nhà vua hỏi Tống Ngọc:

- Khi ǵvậy?

Tống Ngọc thưa:

- Tâu Chúa công, đó là mây sớm. Ngày trước , tiên đế một hôm đến chơi Cao Đường, giữa ban ngày ngủ quên. Tiên đế nằm mơ thấy một người con gái tuyệt sắc, xưng là thần núi Vu Giáp, rồi bày cuộc ái ân với tiên đế. Đến khi từ biệt, nàng nói: "Thiếp' ở trên núi Vu Giáp, nơi cao sơn, sớm làm mây, tối làm mưa; sớm ở Vu Sơn, tối ở Dương đài.

Từ điển tích này, người đời sau, giao hoan giữa gái trai c̣n nói là vu sơn, hay chuyện "mây mưa".

Điển Tích Truyện Kiều - Đoạn Trường

" Làm cho sống đọa thác đày
Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi

Đoạn trường nghĩa là đứt từng khúc ruột. Khi chịu sự đau khổ cùng cực, nỗi đau có thể làm cho người đứt từng khúc ruột hay có thể ĺa đời.

Sách "Đường thi kỷ sự" đă chép chuyện nàng Mạnh Tài Nhân của vua Đường Vũ Tông:

Khi lâm chung. biết ḿnh không qua khỏi, Đường Vũ Tông nắm chặt tay Mạnh Tài Nhân mà rằng:

- Ta chết đi cũng đành, nhưng thương cho người rồi sẽ ra sao..

Mạnh Tài Nhân nấc từng tiếng, chỉ vào chiếc túi vải đựng ống sáo:

- Thần thiếp xin lấy chiếc túi đó để tự vẫn, theo cùng quân vương.

Vũ Tông bật khóc. Mạnh Tài Nhân thưa:

- Xin bệ hạ hăy nghe thiếp ca bài Cung từ của Trương Hộ để tiễn đưa thiêp cùng bệ hạ xa ĺa cơi đời này.

Tiếng hát cất lên cao vút, cao vút nghe quá i ai, đến hết bài th́ nàng đứt hơi, đứng bất động trước vua. Nhà vua gọi ngự y khám và được tâu lại: Mạch của tài nhân vẫn c̣n ấm, nhưng nàng đă đứt ruộ t màchết rồi.

Vua thương xót quá đỗi và rồi cũng theo nàng đi luôn.

Đến khi di quan, th́ linh cữu nhà vua như tŕ xuống quá nặng, đội quân khiêng không nhắc lên nỗị Hay là Hoàng thượng c̣n muốn đợi tài nhân? các quan bèn sai đưa quan tài của Mạnh Tài Nhân rạ Quả nhiên, quan tài của hai người được khiêng đi rất đằm.

Cảm kích cho mối t́nh thắm thiết , Trương Hộ viết bài thơ, đề tựa: "Tài nhân v́ ḷng thanh nên đứt ruột mà chết, nhà vua v́ ḷng thành mà mệnh chung; những kẻ khích liệt ngày trước v́ nghĩa mà chết cũng không hơn được." Thơ rằng:

" Ngẫu nhiên ca băi vịnh kiều tần
Truyền xướng cung trung nhị thập xuân
Khước vị nhất thanh Hà Măn Tử
Hạ tuyền tu điếu cựu Tài nhân "

(Ngẫu nhiên tàn tiệc vịnh đôi vần
Truyền tới trong cung hai chục xuân
Lại bởi một câu Hà Măn Tử
Tuyền đài phái điếu bậc Tài nhân)

Điển Tích Truyện Kiều - Đồng Tước

"Thanh minh trong tiết tháng Ba" chị em Kiều trên đường đi tảo mộ về, chợt trông thấy nấm mồ hoang đầy cỏ dại, lạnh không chút khói hương. Trong lúc ḷng Kiều đang xót xa cho thân phận Đạm Tiên, th́ Kim Trọng, trên lưng ngựa trắng, theo sau lẻo đẻo hai tiểu đồng, cũng t́nh cờ đi ngang qua đấỵ Lần đầu tiên được diện kiến giai nhân, tâm trạng vui mừng của chàng thư sinh được diễn tả bằng hai câu thơ:

Trộm nghe thơm phức hương lân
Một nền Đồng Tước khoá xuân hai Kiều.

Đồng Tước, tên của một đền đài nguy nga tráng lệ thời Tam Quốc, nay không c̣n nữạ Khi qua sông Xích Bích, Đỗ Phủ đă có bài thơ hoài cổ, trong đó có câu:

Đông phong bất dữ Châu Lang tiện
Đồng Tước thâm xuân tỏa nhị Kiềụ
(Gió đông chẳng giúp thuận chiều
Trong đền Đồng Tước hai Kiều khóa xuân)
(Trần Trọng Kim dịch).

Trở lại thớ Tam Quốc . Tào Tháo tự Mạnh Đức, là Ngụy Vơ Đế cho xây đài Đồng Tước trên sông Chương Giang, tỉnh Hà
Nam. Trong lễ tiệc khánh thành, Tào Thực, con của Tào Tháo, đă làm bài phú vịnh Đồng Tước đài, có câu:

Liên nhị kiều ư Đông Tây hề
Nhược trường không chi nhuế đống.
(Bắc liền hai cầu ở Đông Tây như các cầu vồng nổi lên giữa lưng trời).

Vào lúc này, thế của Lưu Bị đă suy yếu hẳn; quân sư Khổng Minh phải vận dụng mưu lược mong khôi phục nhà Hán, bằng cách phải tạo mối thù nghịch giữa Tôn Quyền và Tào Tháọ Ở Giang Đông, tuy Tôn Quyền là chúa tể , nhưng mọi binh quyền đều thuộc về tay Châu Dụ Châu Du và Tôn Sách, chúa của Đông Ngô là hai anh em cột chèo, rể của Kiều Công. Tôn Sách lấy người chị là Đại Kiều, Châu Du, lấy người em là Tiểu Kiềụ Cả hai chị em đều là giai nhân tuyệt sắc.
Khổng Minh lặn lội vào Đông Ngô, t́m đến Châu Du:
- Trong lúc thế chiến đang căng thẳng, dân gian đang mong đợi thanh b́nh, vậy mà Tào Tháo vẫn lấy uy quyề của vua để ức hiếp mọi nơị Lại c̣n lấy của kho, xây đài Đồng Tước tốn kém biết bao nhiêu mà kể, mục đích làm ǵ, tướng quân có biết không ?.
Châu Du chưa trả lời, th́ Khổng Minh đă tiếp:
- Tào Tháo xây Đồng Tước đài là muốn gây chiến vơi Đông Ngộ
- Muốn chiến tranh với Đông Ngô th́ xây đài Đồng Tước làm ǵ ?
- Thật t́nh tướng quân không biết sao ?.
Châu Du lắc đầụ Khổng Minh tiế'p ngay:
- Chẳng lẽ việc Tào Tháo luyện tập thủy binh ngày đêm, tướng quân không biết saỏ
Châu Du ngậm ngự:
- Việc đó tôi có nghe
Khổng Minh bồi thêm:
- Cùng với việc luyện tập thủy binh, Tào Tháo c̣n cho xây cất Đồng Tước đài, để sau chiến tranh, chiếm cứ được Đông Ngô, Tào Tháo sẽ bắt Đại Kiều và Tiểu Kiều về Đồng Tước đài mà hoan lạc.
Châu Du mặt đỏ gay, thét to:
- Dựa vào đâu mà ông dám nói Tào Tháo xây Đồng Tước đài để bắt Nhị Kiều đem về hành lạc.
Khổng Minh thong thả đáp:
- Xin tướng quân hăy nguôi giận. Vậy th́ tướng quân không biết bài phú của Tào Thực vịnh Đồng Tước đài à. Nguyên văn như thế này....

Nhưng đến hai câu:
Liên nhị kiều ư Đông Tây hề
Nhược trường không chi nhuế đống...th́ mưu sĩ Khổng Minh lại đọc là:
Lăm nhị Kiều ư Đông Nam hề
Lạc triêu tịch chi dữ cộng
(Bắt hai nàng Kiều ở Đông Nam về để sớm tối chung vui).
(nhị kiều của Tào Thực là hai cây cầu; nhị Kiều cuả Gia Cát Lượng làvợ của Tôn Sách và vợ của Châu Du)..

Châu Du, tươ"ng hữu dơng vô mưu đă trúng kế độc của Khổng Minh. Sau đó, tướng này đă dàn trận hỏa công trên sông Xích Bích, thiêu rụi mười vạn quân Tào, Ngụy Vơ Đế đại bạị Lợi dụng thời cơ, Lưu Bị xua quân chiếm Kinh Châu, chiếm' vào Lưỡng Xuyên, h́nh thành thế chân vạc thời Tam Quốc.

Điển Tích Truyện Kiều - Gieo Thoi

Gieo thoi trước chẳng giữ giàng,
Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai?

Gieo thoi, ư muốn nói người con gái ném con thoi của khung dệt để bảo toàn tiết hạnh.

Trong tích Tây Sương kư cũng có lời nàng Thôi Oanh Oanh "gợi ư" cho Trương Quân Thụy v́ có t́nh ư cùng chàng: "Quân tử hữu viện cầm chi khiêu, bỉ nhân vô đầu thoa chi cự (quân tử có ôm đàn mà bỡn cợt, bỉ nhân này không dám quăng thoi mà cự tuyệt).

Theo chuyện đời nhà Tấn, Tạ Côn có cô hàng xóm họ Cao nhan sắc khó ai b́, chuyên nghề dệt cửi. Tạ Côn thường hay t́m qua nhà cô gái thả lời ong bướm. Có lần, cô gái ngưng dệt, cầm con thoi ném vào mặt Tạ Côn, làm chàng ta găy mất hai cái răng. Từ đó hết lời trêu ghẹo.

Điển Tích Truyện Kiều - Giọt Hồng

Nh́n càng lă chă giọt hồng
Rỉ tai, nàng mới giăi bày trước sau:
Hổ sinh ra phận thơ đào
Công cha nghĩa mẹ kiếp nào trả xong ?

Trong sách thuốc có viết: Nhân hữu vựng uất, hốt hôn mê bất tỉnh nhân sự (người có chứng vựng uất thường hay bị ngất).

Giọt hồng, giọt nước mắt có màu hồng như máu, người đời c̣n gọi là huyết lệ khóc cho nổi đau khổ cùng cực trong những ḥan cảnh khốn cùng. Điển tích Giọt hồng có trong trong Ngụy Thư:

Đời vua Ngụy Văn Đế có vị quan Tiết Hằng tuổi già về quê ở huyện Lộc
Nam cùng với vợ và con gái Tiết Linh Vân. Linh Vân đang tuổi trăng tṛn, nổi tiếng là một trang thiên hương quốc sắc, học giỏi, lại rất hiếu thảọ Hai năm sau khi Tiết Hằng về quê, trong vùng Lộc Nam nạn cướp bóc hoành hành, giáp biên giới giặc giă lại nổi lên. Triều đ́nh sai Trương Bá Sanh, một vị quan trẻ kiêu ngạo, tham lam, về dẹp loạn. T́nh h́nh tạm yên; Bá Sanh được bổ nhiệm làm tri huyện Lộc Nam.

Nghe tiếng nhan sắc Linh Vân, quan huyện mon men t́m đến. Khi trở về, tức tốc huyện ta cho người mai mối. Cha con Linh Vân từ chối. Bá Sanh sinh thù. Nhân lúc giặc giă lại nổi lên, Bá Sanh lập mưu vu cáo lăo quan về hưu tư thông giặc rồi sai nha quân đến nhà bắt Tiết Hằng dẫn lên huyện đường, giam vào ngục, nói là chờ ngày xét xử nhưng thật ra để ép duyên Linh Vân. Linh Vân quá đau đớn v́ nỗi hàm oan của cha, đánh liều gởi thư về triều kêu oan. Làm sao thư đến được tay vua. Linh Vân lại thư cầu cứu đến vị quan thứ sử họ Huỳnh, là một người bạn cũ của cha nàng. Huỳnh Thứ sử vào chầu vua xin chiếu chỉ, phái Mạnh Quang, một viện sĩ Hàn Lâm giỏi văn chương thi phú, về huyện Lộc
Nam tuần tra.

Hai tháng về Lộc
Nam thanh tra, hồ sơ kêu oan của người dân đă chất cao ngất, vậy mà hàn sĩ Mạnh Quang không hề ngó ngàng tới. Suốt này quan thanh tra chỉ thơ thới với gió núi mây ngàn, chẳng buồn quan tâm đến chuyện thế sự.

Một hôm Mạnh Quang lang thang xuống đường. Phố chợ sao mà đ́u hiu, dân t́nh xơ xác. Mạnh Quang ghé vào một quán nước chè, bỗng gặp một giai nhân, áo quần xốc xếch, không chút phấn son, đang ngồi khóc tấm tức. Mạnh Quang hỏi ḍ bà lăo chủ quán, mới hay người đẹp là Tiết Linh Vân đang khóc cho nỗi oan khiên của cha. Bấy giờ Mạnh Quang mới chợt nhớ nhiệm vụ của ḿnh là về đây giải oan cho gia đ́nh người con gái hiếu thảo này.

Mạnh Quang đi thẳng đến huyện đường Lộc
Nam, vào nhà tù thăm các phạm nhân. Mạnh Quang đ̣i quan huyện Trương Bá Sanh tŕnh những hồ sơ của các phạm nhân có quan hệ với giặc. Xét xong hồ sơ, Mạnh Quang chỉ thị phóng thích hết các tù nhân loại này v́ không đủ chứng cứ buộc tội.

Huyện quan chấp hành lệnh quan triều đ́nh. Ít hôm sau, Mạnh Quang lại xuống chợ, ghé lại quán nước chè của bà lăo, lại vẫn thấy nàng Tiết Linh Vân ngồi khóc tức tưởi. Hỏi ra mới hay, nhiều tù nhân đă được về đoàn tụ gia đ́nh, nhưng phụ thân của nàng bị hàm oan, vẫn chưa được cứu xét. Mạnh Quang hộc tốc quay về nha phủ gặp quan huyện:

- Ta được chiếu chỉ về huyện Lộc
Nam này xét lại các vụ án kêu oan. Nay, ta muốn thẩm tra hồ sơ của Tiết Hằng, người bị kết tôi tư thông với giặc.

Th́ ra, Bá Quang đă dấu nhẹm hồ sơ của Tiết lăo. Bây giờ quan khâm sai của triều đ́nh đă gọi đích danh th́ phải tŕnh rạ Bá Quang đem hồ sơ về, ngày sau trả lại cho Bá Sanh với lời phê: không nhân chứng, không vật chứng sao lại kết tội người ta, lệnh phải tức tốc phóng thích nghi can.. Bá Sanh hận vô cùng, nhưng đành cắn răng chấp lệnh của quan khâm sai.

Hai ngày sau, Bá Quang t́m đến thăm gia đ́nh Tiết Hằng. Một già một trẻ, mới gặp nhau lần đầu mà đă tâm đắc, văn chương thi phú đối đáp đến sáng đêm. Tiết Hằng ngỏ ư muốn gả con gái ḿnh cho Bá Quang. Quan khâm sai hân hoan nhận lời. Bá Qung cáo từ phải về kinh tŕnh tấu kết luận thanh tra và xin hẹn tháng sau sẽ trở lại lam lễ thành hôn cùng Tiết Linh Vân.

Phần quan huyện Bá Sanh, v́ oán thù cha con Tiết Hằng, nay lại được tin t́nh địch của ḿnh là Bá Quang sắp ẵm nàng Tiết Linh Vân đi, đâu được, ta phải cho chúng bây tan tác. Trương Bá Sanh liền thư về triều đ́nh, dâng lên vua, xin đề cử tiế'n cung một nhan sắc tuyệt trần chim sa cá lặn. Vua Ngụy Văn Đế thích ư, liền ra chỉ dụ, triệu Tiết Linh Vân nhập cung.

Ôi thôi, lại một kiếp hồng nhan. Ngày phải bước lên kiêu về cung, Tiết Linh Vân đă khóc như mưa, nước mắt uớt cả xiêm y. Ḷng quặn đau thương cha . nhớ mẹ, nặng t́nh quê hương. Hai t́ nữ theo hầu, phải dùng một b́nh sứ để hứng nước mắt cho nàng. Khi về đến kinh thành, b́nh sứ đă đầy quá nửa nước mắt hồng, cô đặc lại như máu, gọi là huyết lệ.

Điển Tích Truyện Kiều - Gương Vỡ Lại Lành

Bây giờ gương vỡ lại lành,
Khuôn thiêng lừa lọc đă dành có nơi
C̣n duyên may lại c̣n người
C̣n lời trăng bạc, c̣n lời nguyền xưa
Quả mai ba bảy đương vừa
Đào non sớm lựa xe tơ kịp th́

Thời Nam Bắc triều, Trần Hậu Chủ là một hôn quân, ham mê tửu sắc, không màng chi việc triều chính. Trong lúc đó, nước Tùy ở phương Bắc đang trổi dậy, thanh thế lớn nhanh; Từ Văn Đế Dương Kiên ngấp' nghé mưu toan diệt Trần.

Em gái Trần Hậu Chủ là quận chúa Lạc Xương, một giai nhân tuyệt sắc, có chồng là nho sĩ Từ Đức Ngôn. Tuy sống trong phú quí hoàng cung, nhưng vợ chồng TừĐức Ngôn cứ phập phồng lo sợ, một ngày nào đó ngoại xâm sẽ giày xéo giang sơn nhà Trần.

Ngày đó không xa, quân Tùy đă tràn vào như thác lũ. Đức Ngôn vội vàng thu quén ít tiền bạc, định đưa cả gia đ́nh bỏ trốn khỏi kinh thành. Nhưng Lạc Xương đă ngăn lại:

- Chàng là bậc nam nhi, gặp lúc loạn ly, phải xả thân cứu quốc. Thiếp sẽ luôn ở bên chàng, thà chết vinh hơn là sống nhục.

- Đúng, ta phải ở lại góp sức diệt giặc. Nhưng nàng, một nhan sắc không khỏi bị nhục khi giặc tràn vàọ Vây nàng hăy vâng lời ta, một ḿnh trốn đi.

Lạc Xương thuận theo lời chồng, rồi cầm lấy chiếc gương hàng ngày ḿnh vẫn soi bóng, đập vỡ làm đôi:

- Chàng hăy cầm lấy nửa mảnh gương này, thiếp giữ một nửa. Nước sẽ mất, nhà sẽ tan, nhưng t́nh đôi ta không có ǵ có thể chia cắt được. Chúng ḿnh phải sống cho nhau; hẹn chàng, đến ngày thượng nguyên, không được năm nay, th́ qua năm khác, qua năm nữa..., vợ chồng ḿnh đem mảnh gương này ra chợ Tràng An bán. Nếu trời thương cho vợchồng ḿnh c̣n gặp nhau, th́ hai mảnh gương sẽ đuợc ghép khít vào , gương vỡ lại lành, đôi ta sum vầy.

Vợchông bùi ngùi chia tay.

Chưa đầy một tháng, kinh thành nước Trần thất thủ, vua tôi lưu lạc tán loạn. Tướng Tùy là Việt Công xua quân, tha hồ càn quét. Lạc Xương, từ ngày chia tay chồng đă chạy thoát gần đến biên giới an toàn, nhưng v́ lo âu cho chồng, nên lại quay trở về kinh thanh ḍ la tin tức, không may lọt vào ṿng vây của giặc. Một nhan sắc giữa rừng gươm, hỏi ra lại là ḍng dơi trâm anh thế phiệt, th́ làm sao Việt Công lại không rúng động. Tên tướng Tùy liền giành lấy cánh hoa này, đem về ép làm hầu thiếp. Lạc Xương kháng cự mănh liệt, hoặc là giữ được tiết hạnh hoặc chọn lấy cái chết. Cũng may, Việt Công không phải là tên vơ biền háo sắc, hạ tiện nên đă không cố ép liễu nài hoa. Nghĩ rằng rồi thời gian, giai nhân sẽ xiêu ḷng nên cho nàng cấm cung, có đàn cung nữ hầu hạ, canh giữ ngày đêm.

Rồi xuân đến, lơi hẹn ḥ Tết nguyên tiêu hăy t́m đến nhau, nhưng giờ này đôi uyên ương lưu lạc nơi nào. Phần nàng, bị vây trùng trong cung cấm, làm sao đem mảnh gương t́m ra chợ đây?.

Phần Từ Đức Ngôn, từ khi kinh thanh thất thủ, bôn ba chạy đi khắp nơi; kịp lúc xuân về, chàng hồi hộp đem mảnh gương vỡ ra chợ, giả vờ bán.

Trong cung cấm. Lạc Xương may mắn đă thuyết phục được một nàng hầu, nên đúng ngày rằm tháng giêng nàng đă nhờ hầu nữ này cầm mảnh gương ra chợ Tràng An t́m Đức Ngôn. Đến chợ, hầu nữ thấy đám đông đang đứng vây quanh một anh chàng, trêu chọc thằng điên đang đ̣i bán một tấm gương vỡ với giá ngàn vàng.

Biết là gặp đươc người đang t́m, cô hầu đưa ngay nửa mảnh gương cho thằng điên. Hai mảnh gương ghép khít vào nhau, Từ Đức Ngôn bật khóc như đứa trẻ. Chàng hôn hít tấm gương rồi viết vào mặt sau, bài thơ gởi người t́nh:

Ảnh dữ nhân câu khứ
Ảnh qui nhân vị qui
Vô phục hằng nga ảnh
Không lưu minh nguyệt huỵ
Theo người gương vỡ mắt sâu
Gương đà về đó, nhưng đâu thấy nàng
Chị Hằng cũng quạnh tâm cang
Vầng trăng sầu muộn úa vàng năm canh.

Nàng hầu lật bật đem gương về. Lạc Xương đọc được thơ, ôm lấy hai mảnh gương vào ḷng mà khóc tức tưởị Việt Công t́nh cờđi vào, trông thấy, gạn hỏi sự t́nh. Lạc Xương phải t́nh thật, kể lại hết chuyện t́nh của ḿnh. Nghe xong chuyện, Việt Công giả vờ nghiêm giọng thét to:

- Gương đă vỡ..

Lạc Xương hoảng hốt:

- Nhưng...

Sắc diện của Việt Công bỗng hiền ḥa, đôn hậu:

- Nhưng ..giờ nay lại lành. Ta cảm phục mối t́nh của hai ngườị Dù ḷng dạ lang sói cũng phải động ḷng...

Rồi Việt Công sai quân hầu lập tức chạy ra chợ rước Từ Đức Ngôn vào thành, đăi đằng trọng thể, trao trả hạnh phú c cho t́nh yêu.

Điển Tích Truyện Kiều - Hán Sở Chiến Trường

So dần dây vũ dây văn
Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương.
Khúc đâu Hán Sở chiến trường
Nghe ra tiếng sắt , tiếng vàng chen nhau
Khúc đâu Tư mă Phượng cầu
Nghe ra như oán, như sầu phải chăng ?
Kê Khang này khúc Quảng Lăng
Một rằng Hoa nhạc, hai rằng Qui vân
Quá quan này khúc Chiêu Quân
Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia
Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như tiếng suối mới sa nửa vời
Tiếng khoang như gió thoảng ngoài
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưạ.

Đây là chuyện Hán Sở tranh hùng, đoạn kết oan nghiệt của mối t́nh Hạng Vơ Ngu Cơ:

Với mưu lược của Hàn Tín, quân Hán của Lưu Bang đă chiếm được Bành Thành, cứ điểm cuối cùng của quân Sở. Hạng Vơ phải kéo quân về thủ trại trên bờ sông Ô Giang. Tuy t́nh h́nh đă nguy khốn, nhưng quân số Sở vẫn c̣n kháđông. Hạng Vơ lại là một dũng tướng phi thường, trong một ngày đánh lui hơn 60 viên tướng Hán mà đao không nhụt, ngựa không lùị V́ vậy quân Hán chỉ bao quanh trại quân Sở reo ḥ inh ỏi, nhưng không có thêm tướng nào dám vào nghinh chiến với Hạng Vơ.

Tướng sĩ tâu tŕnh với Hạng Vơ:

- Cả ngày hôm nay, Đại Vương thân không rời giáp , ngựa chẳng hở yên. Bây giờ tướng Hán đă khiếp sợ, án binh bất động. Vậy xin Đại Vương cho đóng dinh để Hoàng hậu nghỉ tạm qua đêm.

Hạng Vũ đồng ư và cho mời Ngu Cơ đến:

- Quân Hán đă cướp thành. Đêm nay ái hậu cùng ta qua đêm bên gịng sông Ô Giang này, màn trời chiếu cỏ kể cũng thi vị. Ngày trước ta đánh Chương Hàm, phải mất chín ngày mới thắng được. Nay chỉ một sớm chiều đă đánh bạt được hàng chục tướng Hán, chỉ v́ muốn kết trận sớm để về với nàng.

Trong lúc ấy, quân sư Hàn Tín của Lưu Bang đang đứng ngồi không yên, suy mưu tính kế. Các tướng Hán đă hợp sức giao tranh với Hạng Vơ mà vẫn thua chạy dài, th́ không dùng thế cương mà thắng được. Hàn Tín cho mời Trương Lương đến vấn kế:

- Luôn mấy ngày ác chiến với Hạng Vương, các tướng Hán không ai địch nổị Nếu để t́nh h́nh này kéo dài, Hạn Vương sẽ thoát được ṿng vây, kéo về Giang Đông mà dưỡng binh, th́ chiến sự sẽ khó phân bề thắng bạị Xin tiên sinh chỉ giáo một mưu chước mới ḥng đánh bại được Sở vương.

Một chút trầm ngâm, Trương Lương trả lời:

- Việc đó không khó. Bây giờ cứ làm cho các tướng sĩ của Hạng Vơ phân lỵ Khi Sở vương đă bị cô thế rồi, th́ ta bằ't sống dễ dàng. Từ nhỏ, tôi có học được khúc tiêu của một dị nhân. Nghe khúc tiêu này, ḷng người xao động mănh liệt t́nh hoài hương, đang vui th́ sẽ hân hoan khó tả, đang buồn th́ lại càng da diết nhớ quệ Nay đang lúc vào thu, gió heo may về, cây cỏ xao xác lá vàng, kẻ chiến chinh chắc không thể nào không thổn thức nhớ quệ Tối nay, tôi sẽ vào vách núi Kê Minh, trong canh vắng, tiếng tiêu vọng lên th́ quân tướng Hạng Vơ chẳng c̣n ḷng dạ nào mà nghĩ đến chuyện binh đao.

Đêm về khuya, làn gió se lạnh, ánh trăng thu nhạt nḥa trong màn sương. Tiếng tiêu trỗi lên réo rát, sầu thảm như ḷng cô phụ, mênh mang như ḷng mẹ nhớ con, thỏ thẻ như tiếng trẻ mong cha về... ḷng ai có sắt đá đến đâu bỗng chốc cũng yếu mềm như cánh liễu non trước cơn gió lốc. Tiếng tiêu lại c̣n cách đoạn bằng lời ca bi ai:

Đêm thu mù mịt trời sương
Có người thiếu phụ quê hương lạnh lùng
Sa trường vó ngựa
Trẩy gót binh nhung
Con thơ nheo nhóc mịt mùng dặm xa
Cơ hàn đau đớn mẹ cha
Canh khuya ṿ vơ tuổi già đợi con
Chí trai vạn dặm
Hồ thỉ bốn phương
Nhưng con đi đă lầm đường
Giúp người tàn bạo không thương dân t́nh
Mơ mang giữa nửa giấc ba sinh
Một đi một nhớ một ḿnh canh thâụ

Tiế'ng địch trên sông Lô dẫn theo lời ca nỉ non đă mau chóng làm mềm ḷng tướng sĩ của Sở vương. Họ buông gươm giáo, cỡi bỏ chiến bào, lặng lẽ đào ngũ. Chỉ c̣n lại hai tướng trung kiên là Chu Lan và Hoang Sở đă cưỡng lại đước cái âm thanh mê hoặc đó. Cả dinh trại trong phút chốc bỗng rơi vào cái tĩnh lặng đáng sợ. Chính cái tĩnh lặng này đă đánh thức dũng tướng Hạng Vơ. Sở vương vùng đứng đậy, quay mặt về phía núi Kê Minh, nơi đang vọng ra tiếng tiêu năo nùng. Sở vương ngửa mặt lên trời than:

- Ôi cơ đồ của ta, trong thoáng chốc đă tiêu ta