Cồng chiêng Tây Nguyên
Back MỤC LỤC VIỆTNAM QUÊ HƯƠNG TÔI

GAMES
ABOUT
KIENTRUC
THƠ & TẾU
QUÊ HƯƠNG
MÙI VỊ QUÊ TA
ALBUM VIỆT
QUỐC KỲ
MẸ VIỆT
THƠ T̀NH
THƠ HAY

Tiếng cồng trong ngày hội leo
núi. |
Với người Tây Nguyên cồng chiêng là loại nhạc khí biểu hiện tính cộng đồng
rất cao mang những giá trị về nghệ thuật âm nhạc, phong tục tập quán và c̣n
là biểu tượng của sức mạnh kinh tế. Trong tất cả các loại lễ hội ở Tây
Nguyên kể cả những công việc nhỏ của từng gia đ́nh đều không thể thiếu cồng
chiêng. Cồng chiêng đă thực sự gắn bó với đời sống hằng ngày của đồng bào
Tây Nguyên, xuyên suốt cả cuộc đời người, thực sự là linh hồn, là xương, là
thịt của các dân tộc ở đây.
Nói đến nhạc khí có chất liệu hoàn toàn bằng kim loại có lẽ không ở đâu
trên đất nước ta lại có nhiều và đa dạng như ở Tây Nguyên. Tây Nguyên là một
vùng văn hóa c̣n lưu lại một kho tàng nhạc khí được chế tác hoàn toàn bằng
kim loại rất đồ sộ. Đó là ching chêng mà người Việt quen gọi là
cồng-chiêng. Từ ching tương ứng với chiêng, từ chêng
tương ứng với cồng. Bên cạnh ching chêng c̣n có Yao Prông. Greng
neng (lục lạc, chũm chọe).
Nói đến cồng chiêng (theo cách gọi của người Việt) hoặc ching chêng (theo
cách gọi của người Gia Rai, Ba Na) có nghĩa là chỉ cả hai loại: cồng bằng
không có núm và chiêng có núm. Tuy nhiên, người Gia Rai và người Ba Na cũng
có những cách gọi khác nhau: người Ba Na gọi cồng chiêng là ching chêng.
Người Gia Rai có cách gọi riêng tùy từng vùng và nhóm dân tộc.
ở Tây Nguyên, hầu như đến nhà nào, buôn nào của đồng bào Tây Nguyên đều
cũng thấy có cồng chiêng. Nhà ít cũng có một bộ, có nhà hàng chục bộ. Tuy
vậy không phải cồng chiêng nào cũng giống nhau. Mỗi dân tộc, mỗi vùng đều có
các loại cồng chiêng riêng của dân tộc ḿnh và đặc biệt là phương pháp, mục
đích và phạm vi sử dụng.
Cồng chiêng được đúc bằng đồng. Có nhiều loại rất quư được đúc bằng các
hợp kim như gang, ch́, đồng... Có loại phần núm được pha cả vàng và bạc.
Cồng chiêng là loại nhạc khí tự thân vang. Có nhà nghiên cứu âm nhạc thế
giới đă xếp cồng chiêng vào nhóm nhạc khí hàm âm.
Trải qua nhiều thế kỷ vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt, chiến đấu
chống kẻ thù, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đă sáng tạo và định h́nh những
loại nhạc khí phù hợp với cuộc sống của núi rừng. Cồng chiêng là loại nhạc
khí biểu hiện tính cộng đồng rất cao. Trong tất cả các loại lễ hội ở Tây
Nguyên kể cả những công việc nhỏ của từng gia đ́nh đều không thể thiếu tiếng
nói của cồng chiêng. Cồng chiêng đă thực sự gắn bó với đời sống hằng ngày
của đồng bào Tây Nguyên như h́nh tượng cây tre trong đời sống của dân tộc
Việt ở các làng xóm thân yêu. Tiếng cồng chiêng xuyên suốt cả đời người,
thực sự là linh hồn, là xương, là thịt của các dân tộc ở đây.
Từ khi lọt ḷng mẹ, đứa trẻ đă được thưởng thức âm thanh của cồng chiêng
qua lễ "thổi tai". Khi lớn lên theo tiếng cồng chiêng trong lễ "mừng sức
khỏe", "hội mùa", "mừng lúa mới", "pơ thi"... Những đêm tụ hội ở nhà Rông,
tiếng cồng chiêng vang vọng, tràn ngập cả núi rừng. Cả cuộc đời lúc nào cũng
đầy ắp tiếng cồng chiêng. Đến khi từ giă cuộc đời th́ cồng chiêng vẫn vang
vọng tiễn đưa và... măi đến khi lễ "pơ thi" tiếng cồng chiêng lại u hoài, ảm
đạm, day dứt. Để rồi từ đó người đời mới thực sự lăng quên. Cái cồng, con
chiêng đă ăn ở với con người đời đời kiếp kiếp. Nó thể hiện đầy đủ tâm tư,
t́nh cảm mừng vui, buồn đau, căm giận của con người Tây Nguyên. Đồng bào các
dân tộc ở đây đă sử dụng và giữ ǵn với h́nh thức cha truyền con nối. Chẳng
những cồng chiêng có giá trị về mặt nghệ thuật âm nhạc, về phong tục tập
quán xă hội mà c̣n có giá trị kinh tế cao. Cồng chiêng biểu hiện sự giàu có,
sự hùng mạnh và chiến thắng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.
Về nguồn gốc của cồng chiêng cho đến nay vẫn c̣n nhiều ư kiến khác nhau
chung quanh câu hỏi: cồng chiêng ở Tây Nguyên có từ bao giờ? Được nhập từ
nơi nào vào Tây Nguyên hay do chính đồng bào bản địa vào đây đúc nên, mà đến
nay nó vẫn quy tụ tại vùng đất này phong phú đến thế?
Trong quá tŕnh đi điền dă chúng tôi thấy đồng bào các dân tộc thường gọi:
ching Lào, ching Joăn, ching Kúr. Qua một số tên gọi như vậy chúng ta có thể
biết rằng cồng chiêng không phải do đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đúc nên,
mà được du nhập từ nhiều nơi khác đến. Bởi lẽ ở Tây Nguyên đồng bào các dân
tộc c̣n đang ở nền văn minh "lúa khô nương rẫy cao nguyên". Họ chưa có kỹ
nghệ để tự đúc được cồng chiêng. Một số nhà nghiên cứu đă đưa ra một số giả
thiết về nguồn gốc của cồng chiêng:
- Ching Lào đă được đưa từ Lào sang. Có người c̣n cho rằng ching Lào được
đúc từ Myanmar, qua con đường trao đổi, buôn bán đă đến Tây Nguyên. Đây là
loại chiêng rất quư, được đúc bằng đồng có pha bạc, tiếng kêu to vang xa.
- Ching Joăn do người Kinh đúc. Đây cũng là vấn đề c̣n bàn căi, tranh
luận khá sôi nổi. Tại sao người Kinh đúc chiêng mà lại không sử dụng? Có lẽ
thời bấy giờ người Kinh đă t́m thấy một thị trường lớn tiêu thụ cồng chiêng
rồi sản xuất và đem lên Tây Nguyên buôn bán, trao đổi. Theo các nghệ nhân
th́ hiện nay loại ching Joăn ở Tây Nguyên không c̣n nhiều. V́ qua sử dụng âm
thanh không âm vang nên đồng bào đă loại dần.
- Ching Kúr đă được đưa từ Thailand, Cambodia sang.
Theo thống kê bước đầu ở các địa phương, trong các dân tộc Gia Rai, Ba Na
c̣n bảo lưu được một lượng cồng chiêng lớn nhất so với các dân tộc khác dọc
Trường Sơn.
"Dăy Trường Sơn có thể xem như chính là cái nôi sản sinh và truyền bá
toàn khu vực nền văn hóa âm nhạc độc đáo của cồng chiêng".

Tiếng chiêng mừng ngày mùa. |
Từ địa vực cư trú của
người Gia Rai, Ba Na nh́n sang các địa phương khác : người ?Đê, M'nông ở Đác
Lắc, người Mạ, Kơ Ho ở Lâm Đồng, người Mường ở Ḥa B́nh, Thanh Hóa, người Hơ
Rê ở Quảng Ngăi, B́nh Định, người Sé Dang, Brâu, Rơ Măm ở Kon Tum cũng có
những loại cồng chiêng và phong tục sử dụng cồng chiêng lâu đời.
Nói đến cồng chiêng là nói đến âm thanh của chúng. Âm thanh chính là linh
hồn của cồng chiêng vậy. Nhưng khi cồng chiêng từ nơi khác đưa đến Tây
Nguyên, âm thanh của nó c̣n mang tính tự nhiên, chưa hợp với tai nghe của
đồng bào. V́ vậy việc sửa, chỉnh lại âm thanh để sắp xếp hàng âm theo ư
thích của đồng bào là một vấn đề có tính đặc trưng. Muốn làm được việc này
họ dùng những chiếc búa nhỏ bằng đồng để điều chỉnh độ dày, mỏng ở các vị
trí khác nhau trên mặt chiêng, t́m ra độ cao theo ư muốn. Việc chỉnh âm (tul
chiêng) đ̣i hỏi người chỉnh phải có tai nghe chính xác và thông hiểu thanh
âm của dân tộc. Việc tul chiêng như trên không phải ai cũng làm được. Mỗi
plei chỉ có một vài người, mà đồng bào thường gọi với cái tên trân trọng là
Ông trùm chiêng (Po ania chêng).
Về phương pháp sử dụng cồng chiêng th́ mỗi vùng, mỗi dân tộc có những
cách đánh khác nhau. Có khi dân tộc này đánh bằng dùi, dân tộc khác lại dùng
nắm tay để đấm. Cũng là đánh bằng dùi nhưng có nơi đánh tự nhiên để tiếng
chiêng vang xa, có nơi dùng tay bịt lại để tiếng chiêng ngừng, ngắt. Dùi
đánh chiêng có hai loại: một lại có bọc giẻ hoặc cao su ở đầu để đánh cồng
có núm; một loại bằng một đoạn gỗ mềm để đánh chiêng bằng. Thường thường khi
đánh cồng người ta gơ vào phần núm của chúng. Khi đánh chiêng bằng người ta
gơ vào tâm điểm của mặt chiêng. Cũng có vùng đồng bào Gia Rai đánh vào mặt
sau của chiêng.
Trong những ngày hội, lễ khi xuất hiện cồng chiêng là xuất hiện văn nghệ.
Tùy theo khả năng kinh tế (rượu thịt) mức độ từng nơi có khác nhau. Nhưng về
h́nh thức mỗi con người hầu như bộc lộ hết ḿnh trong các sinh hoạt cộng
đồng. Đánh chiêng, múa hát đă trở thành phong tục truyền thống, thành nhu
cầu không thể thiếu được trong đời sống đồng bào. V́ thế cồng chiêng đă đạt
tới mức độ hoàn chỉnh khá cao về giai điệu, tiết tấu, ḥa âm và đối vị. Con
người Tây Nguyên thông qua nghệ thuật biểu hiện của cồng chiêng đă biểu lộ
tinh thần thượng vơ, đoàn kết thương yêu nhau, hiểu biết tâm tư, t́nh cảm
của nhau. Nó c̣n biểu lộ những khả năng sử dụng cồng chiêng tuyệt vời của
từng cá nhân và tập thể.
Một thực tế hiện nay ở Tây Nguyên là nạn "chảy máu cồng chiêng". Cồng
chiêng đă bị mua bán, cân lên như những thứ phế liệu khác. Theo điều tra
gần đây nhất, số lượng cồng chiêng ở Tây Nguyên đă giảm 80% so với trước đây.
Việc săn lùng cồng chiêng như một món đồ cổ là vấn đề quan tâm hiện nay ở
Tây Nguyên. Cồng chiêng là vốn di sản văn hóa dân tộc cần phải được bảo vệ
và tiếp tục nghiên cứu, sưu tầm và phát huy vốn truyền thống này.
Lê
Thị Nhâm
Back MỤC LỤC VIỆTNAM QUÊ HƯƠNG
TÔI
|