|
Nhiều người khi mới
đến quê hương tôi nơi Quảng trị,
thường hay có cảm giác e ngại, sợ sệt, vì
khi mới nghe đến một vùng đầy lam sơn
chướng khí, mảnh đất eo hẹp
được giới hạn bằng một bên là
biển, một bên rừng. Khí hậu quanh năm hai mùa
với mùa hè nắng cháy, nắng nung người làm héo
cỏ khô cây; mùa đông thì mưa dầm ướt
đất, mưa không ngớt làm sũng lầy những
vùng cao nguyên đất đỏ, làm úa tàn lúa mạ
của vùng đồng bằng. Trong những ngày vừa
chớm thu, các khu rừng lá cây sắp ngã màu vàng và
rụng dần, bắt đầu những cơn mưa
ngâu lành lạnh, gió thổi mạnh làm rung đổ
những giọt nước mắt của "Chức
nữ thương nhớ Ngưu lang", như trong
một chuyện cổ tích dân gian xa xưa nào, câu
chuyện đầy thơ mộng và lãng mạn mà khi nghe
kể lại chắc không ai lại không khỏi bùi ngùi!
Tiếp theo là những cơn bão làm trốc gốc
đổ cây, rồi tiếp đến là lụt lội
ướt át. Không có năm nào lại không xảy ra thiên
tai làm hư hại mùa màng, làm hao tổn không biết bao
nhiêu mồ hôi nước mắt của người dân
quê đã đổ xuống trên ruộng vườn
nương rẫy, tạo nên cảnh đói rách lầm
than. Câu tục ngữ thường truyền tụng
nơi đây là: "Làm cho có để mưa gió mà ăn"
là vậy, mỗi năm có hai mùa,mùa
tháng ba thì cũng nhờ Trời mưa thuận gió hòa nên
thu hoạch được đầy đủ, còn
vụ mùa tháng tám thường hay bị thất thu, cho nên
nông dân phải trồng thêm các loại hoa màu phụ
như khoai sắn để phụ lực... (No lòng
chớ phụ môn khoai, đến năm Thân Dậu lấy
ai bạn cùng!). Họ thường nói đến nạn
đói của năm Thân Dậu (là hai năm 1944-1945),
như nhắc nhở cho con cháu biết một bài học
dắng cay, để mà tiết kiệm để mà tích
trữ lương thực, của cải cho những
việc bất thường như: quan, hôn, tương,
tế...( năm Thân Dậu tại Quảng trị
xảy ra nạn đói kinh hồn, gây cảnh chết
chóc cho cả hàng trăm ngàn người, vì năm ấy
bị xảy ra một cuộc khủng hoảng về
chính trị và kinh tế rất trầm trọng, trong lúc
người Nhật vừa đến tiếp thu lãnh
thổ từ tay người Pháp, thì tức tốc áp
đặt một thể chế quá khắc nghiệt
đối với người dân, như ruộng
vườn không được trồng lúa mà phải
trồng đay, trồng dâu nuôi tằm để
khuếch trương nền kỷ nghệ v/v...). Vì
thế mà nẩy sinh ra những phong trào từ trong dân
chúng đứng lên chống Pháp, kháng Nhật và như thế
là chiến tranh lại tiếp diễn đến
triền miên! Cho đến thời cận đại thì
các cường Quốc lại sử dụng mảnh
đất Quảng trị như là một phương
tiện, một nơi chốn để tranh giành ảnh
hưởng Quốc tế, "Họ dùng làm vùng phi quân
sự" cho các cuộc thí nghiệm võ khí đạn
dược, hằng ngày đã đổ xuống hằng
ngàn tấn bom cùng với thuốc khai quang đã tàn phá
hết nhựa sống của thiên nhiên, hàng rào
điện tử với bãi chông mìn, kẽm gai dăng
khắp đây đó đã tạo nên cảnh chết
chốc và gây thương tật cho dân chúng địa
phương. Hiện tượng ấy cho đến bây
giờ sau hơn hai mươi năm chấm dứt
chiến tranh, nhưng những vũ khí giết
người ấy vẫn còn nằm đó, đầy
dẫy như dang chờ chực những ai bất
hạnh!...
Vì thế cho nên những người khi mới chân
ướt chân ráo đến vùng Quảng trị thì
họ thường hay than rằng :
"Đến nơi đây đất nước
lạ lùng, nghe con chim kêu cũng sợ nghe con cá vùng
cũng run!".
Cảm giác ấy không phải chỉ đối với
những người vừa mới đến, mà
người dân địa phương sống lâu năm
tại đây cũng cảm thấy không thoải mái,
không an nhàn! Vì ngoài khí hậu khắc
nghiệt, lam sơn chướng khí, chiến tranh tàn phá
còn có thú dữ hoành hành nữa! Như tại địa
phương có câu tục ngữ: "Nác khe mèo, beo làng
Rọng", (những con suối phát xuất từ vùng
Tân lâm, Khe sanh đầu nguồn của con sông Vĩnh
định, có con suối mang tên là"Khe mèo" vì
nước suối trong vắt, đứng trên bờ có
thể nhìn xuyên suốt dưới lòng khe, thấy
được sỏi cát nằm dưới đáy,
nước trong đến thế cho nên mới gọi là
suối trong như mắt mèo, thế nhưng khi múc
nước đem đun sôi thì nước ấy lại
biến thành màu ti'm nhạt, nước uống rất
độc. Cũng có thể giữa vùng thâm u cây cối
là môi trường thích hợp cho muỗi mòng và các loại
côn trùng có mang vi khuẩn truyền bệnh. Cư dân ở
đây phần nhiều đều "mặt bủng da
chì" nhất là trẻ em bỡi hậu quả cuả
các chứng bệnh sốt rét và sán lãi! Ngành Y tế
tại đây thì lại thiếu thốn đủ
thứ nên không đáp ứng nhu cầu cho một
chương trình phòng ngừa và trị liệụ(
Nhớ lại trước đây khi còn làm lính, đi hành
quân trên các vùng cao nguyên như Khe sanh, Lao bảo, Ba lòng, A
sao, A lướị.. Đơn vị chúng tôi không ai
tránh khỏi bệnh sốt rét rừng, mặc dầu ai
nấy đều phải mang theo đầy đủ
các loại thuốc phòng ngừa bệnh sốt rét và
dầu nóng để trừ muỗi, vắt... Còn tại
vùng Cuà là một thung lũng được bao bọc
chung quanh bằng rừng núi, có một ngôi làng nằm
giữa trũng thấp có nhiều chỗ làm ruộng,
cho nên dân làng đặt tên là "làng Rọng", làng
nầy nằm gần một khu rừng có rất
nhiều thú dữ như cọp, heo rừng thường
hay kéo về phá hoại mùa màng cũng như đe dọa
tính mạng cuả dân làng, để đề phòng
những bất trắc có thể xẩy ra, họ
phải cất nhà sàn để ở hay làm nhà bằng cây
rừng thật chắc chắn. Đêm đêm muốn
đi đâu thì họ dùng cây đót bó lại thành bó,
đốt lên làm đuốc soi đường và trừ
thú dữ (tiếng địa phương gọi là cái
chền) ngoài ra họ còn làm bẫy để sập thú
rừng. Trâu bò cũng phải làm chuồng chắc
chắn bằng cây rừng (gọi là cái ràn) chứ không
thể buộc khơi khơi ngoài đường như
các nơi khác.
Nhưng khi đến sinh sống tại Quảng trị
một thời gian rồi thì họ đâm ra ghiền,
không phải họ ghiền vì bùa mê thuốc lú, không
phải họ ghiền vì nơi chốn ấy đã
đem lại cho họ một cuộc sống vững
chải về kinh tế, để được an nhàn
mà vui sống cảnh điền viên! Bởi vì ngoài thiên
tai, còn là nơi đã chịu nhiều oan nghiệt về
chiến tranh dai dẳng, khiến cho tâm hồn họ
phải chai lì, đời sống thì với những
bất trắc chực chờ, đói nghèo và thiếu
thốn đủ thứ ... Như vậy điều gì
đã khiến cho họ phải gắn bó với cuộc
sống nơi đâỷ Có lẽ chỉ còn là tình
cảm, chỉ còn những kỷ niệm nào đó đã
ghi lại trong tâm hồn họ, khiến cho họ
phải luyến lưu phải gắn bó...
Kỷ niệm ấy có thể là hương lòng của
Tiên tổ , có thể là nếp sống
chất phác mà hiền hoà, đơn sơ mà hồn nhiên
cùng với tình keo sơn của bà con làng xóm... Những
mối liên hệ ấy là một chất keo gắn
liền đời sống với nhau như anh em một
nhà. (tình cảm ấy cũng có thể là tình đồng
bào, được bắt nguồn từ huyền
thoại Mẹ Âu cơ sinh trăm trứng, nở thành
trăm con, năm mươi con lên núi, năm mươi
con xuống biển nhưng núi và biển vẫn nằm
trong một Tổ quốc, cho nên con cháu sau nầy
đều vẫn là anh em) .
Các cuộc sinh hoạt làng xã, họ thường gặp
gỡ nhau ở ngoài đồng ruộng, trong các buổi
hội hè, gặp nhau trong những ngày mùa đang gánh lúa
về trên con đường làng thơm mùi tóc rạ,
họ chia xẻ cùng nhau những niềm vui khi
đứng nhìn ra cánh đồng chín vàng trĩu
đầy bông lúa và nhất là những điệu hò câu
hát của những đêm giã gạo dưới
trăng...
Hò ơị..
Đứng bên ni khe ngó qua bên tê khe thấy bụi tre,
bụi trừa bụi đựng
Ngó xuống dưới sông nọ có mấy hòn đá,
hòn dựng hòn nằm
Thiếp với chàng là đạo nghĩa trăm năm
Dẫu mai sau không thành chồng vợ, nhưng sớm
viếng tối thăm cũng tình!
Những hình ảnh như bụi tre, hòn đá chỉ là
những biểu tượng để ví von, so sánh mà
thôi, chứ nó không liên quan gì đến tình cảm của
con người, mà ở đây "đạo
nghĩa" mới là quan trọng, nó chính là rường
cột của giềng mối, là chất keo để
ràng buc và bảo vệ cái tình cảm thiêng liêng đã in sâu
trong tâm khảm của mọi ngườị Những
người đã sống chung với nhau cùng xóm, cùng làng
thì dẩu không phải là bà con họ hàng, không phải là
anh em ruột thịt, dẫu không thành tình nghĩa vợ
chồng với nhaụ.. Nhưng cùng chia xẻ những
niềm vui nỗi buồn, hay thăm viếng và giúp
đở lẫn nhau trong lức hoạn nạn, thì
đó cũng là những an ủi
cần thiết cho chúng ta trong đời sống nầy
rồi (Bà con xa không bằng láng giềng gần mà!). Tình
cảm ấy cũng không hẳn chỉ dành cho những
người đã chung sống với nhau lâu năm, mà còn
đối với những người mới cùng
hạnh ngộ, cho dù chỉ là một khách vãng lai:
Ai về phố Hi , sông Cầu
Để thương để nhớ, để
sầu cho aỉ
Để sầu cho khách vãng lai
Để thương để nhớ cho aỉ
để sầu!
Để sầu cho khách vãng lai, hay để sầu cho
người ở lạỉ Cũng chỉ là những
câu hỏi được lặp đi lặp lại
như một nỗi i dùng dằng giữa kẻ ở
người đi, như nỗi luyến tiếc một
cái gì thật mơ hồ, nhưng biết rồi đây
sẽ tàn phai theo ly biệt! Nghe nó thật là ngổn ngang
trăm mối, bởi vì câu hỏi trước thì
chỉ thuần tuý là một câu hỏi, chỉ cần
một câu trả lời là xong thí dụ như: (nếu
biết rằng em đã lấy chồng, anh về
lấy vợ thế là xong!) , như
vậy là đã được giải quyết một
cách thoả đáng rồi, không còn gì để mà phân vân
nữa cả. Thế nhưng câu hỏi cuối cùng
mới chính là vấn đề cần phải suy
luận, vì nó vừa là một câu hỏi mà cũng vừa
là một lời than! Một câu mà thành ra hai câu, một câu
hỏi và một lời than chăng? Cũng có thể
lắm chứ, (Để thương để nhớ
cho aỉ để sầụ..), mới nghe thì cũng
chỉ lặp lại câu hỏi trước, nhưng nhìn
kỹ thì đoạn sau lại được (hay
bị) đảo ngữ, cho nên không biết đây là câu
hỏi hay câu trả lời đâỷ Chữ
"để sầu" treo lơ lững ở phía
đàng sau như một nỗi than trách ai đó, nó không
còn nằm trong phạm vi câu hỏi nưã, mà nó đã
rớt lại đằng sau như còn lưu luyến
một cái gì, thật thiết tha biết mấỷ Câu
hỏi kế tiếp cũng bắt nguồn từ manh
nha tình cảm:
Ra về có nhớ em không?
Hay là xuôi buồm thuận gió biệt mong xa chừng!
Ở đời cảnh hợp tan thì làm sao mà tránh
khỏỉ Vẫn biết vậy nhưng khi đã dan
díu với nhau rồi, thì ai bắt mình phải xa lánh
những ước mơ thầm kín? Của một
lần đã cùng ai hẹn biển thề non!
Đã một lần cùng ai nói câu ước hẹn, cho nên
nỗi phân vân cứ đeo đẳng mãi không thôi!
Ra về sao đặng mà về?
Bỏ non bỏ nước, bỏ mấy lời thề
cho ai!
Bỏ non, bỏ nước... thì chắc là có thể
bỏ được, vì đây không phải là nơi
"chôn Nhau cắt Rốn", đây không phải là quê
hương xứ sở chi của mình, thì đến hay
đi cũng không thành vấn đề chi mấỵ..
Nhưng còn "mấy lời thề" nó mới là
rắc rối làm saỏ Bỏ lại cho ai đâỷ
...
Đối với những người mới quen
biết thì họ chỉ bóng gió, với lời lẽ tuy
chơn chất nhưng thiết tha, tuy quê mùa nhưng gói
ghém một tình cảm thiệt thâm thúy đến
đường nàọ.. Còn đối với những
người (xa xôi chi đó mà lầm, phải hương
hương bén, phải trầm trầm thơm) thì
saỏ Họ có đối đãi với nhau như
thế chăng? Có lẽ là không đâu, vì họ có cần
chi phải "bóng gió" cho thêm mệt, lại phải
đi vòng vo tam quốc cho hao xăng tốn nhớt? Cho
mệt trí phí sức, cứ đi thẳng một
dường mực tàu, để "thâu ngắn
đường về", mặc dầu đôi khi
vẫn biết rằng: "Thẳng mực tàu thì đau
lòng g " đấy! :
Mấy anh chưa vợ quanh năm
Đêm đông lạnh giá anh nằm với aỉ
Thiệt nghe cũng khó trả lời đây có phải
không các bạn "tu mi nam tử"? Ai đâu lại
đi hỏi cắc cớ như thế nầy, biết
mần răng mà trả lời cho xuôi thuyền mát
máỉ Biết làm sao mà trả lời cho nghe
được cái lỗ taỉ Làm sao mà mở ra một
con đường uyên nguyên cho cõi đi về khỏi cô
đơn giá lạnh? Bởi vì anh vốn là một
kẻ quê mùa dân dã, nghèo khó một đời thì làm sao dám
cùng người để "gối phụng chăn
loan"? Bởi vì anh chỉ là một gã tiều phu
đốn củi thì làm sao dám mơ ước được
nằm với aỉ Bởi vì thân phận của anh
"Khó nghèo ở chốn sơn lâm, mai than chiều
củi, gặp trầm họa may", cái họa may
nầy cũng hiếm hoi lắm đó, vì trầm là
một loại gỗ quý hiếm, thì làm sao mà bắt
được giữa hư không? Cho nên câu hỏi
nầy xem ra đã bí lối, không tìm được câu
trả lời thì thấy cũng mất mặt cả
"đấng nam nhi", mà câu trả lời không
được chí lý thì làm sao tránh khỏi miệng
đời hay dòm ngó, thị phỉ Cho nên cũng có
người phải suy nghĩ nát óc để tìm ra câu
trả lời để họa may cứu vãn tình thế!
May thay một đấng nho thâm uyên bác đã thay thế
chúng ta để "gở rối tơ lòng"!:
Em hỏi chi chuyện ấy cho mất công
Nếu nóng thì anh nằm ngủ thẳng, mà lạnh thì
nằm cong khó gì?
Lành thay, lành thay mọi việc đã được
giải quyết ổn thỏa rồi, vì anh đây
đâu phải còn cái diện "ăn
chưa no, co chưa ấm" nữa đâu, mà phải
đi mắc mưu cái phận "thuyền quyên"
đánh cờ còn chưa sạch nước cản?
Nếu còn câu nào hóc hiểm nữa thì cứ đem ra,
nếu anh trả lời không đặng thì anh nguyện
sẽ "làm phận đàn bà như em!".
Anh trèo lên cây sung cũng biết mùi sung sướng
Anh chê tơ anh kén lụa, thì lụa cũng là tằm
Em đố anh một năm mười hai tháng, tháng mô
không rằm rứa anh?
Đối thì phải đáp, hỏi thì dĩ nhiên
phải trả lời nhưng câu hỏi nầy cũng
hơi có phần gay cấn, vì tháng nào lại tháng không có
rằm? "Nó" đã khôn ngoan đi nằm chính
giữa để khỏi mất phần mền, dù ai có
kéo qua kéo lại thì trên thân nó cũng đủ chăn
ấm với nệm êm, bây chừ biết tìm mô ra một
thằng "dại" đã được nằm
giữa mà lại bỏ mất phần mền đây em?
Thôi thì "phóng lao thì phải theo lao", đã lỡ leo
lên lưng cọp rồi thì ai dại gì nhào xuống cho
bị cọp vồ? Vẫn biết tơ với lụa
thì cũng phát xuất tự tằm, mà con tằm thì
cũng chỉ là loài sâu chớ quý hồ chi đây mà anh
phải chọn? Nhưng một năm mười hai
tháng mà tháng mô lại không có rằm thì lại là một câu
hỏi "bất thường"! Nhưng dù sao đi
nữa thì anh cũng phải vận dụng cái "trí
thông minh" để trả lời cái câu lắt léo:
Em trèo lên cây cam cũng biết là cây cam khổ
Em che chài em chọn lái, thì lái cũng là gai
Một năm mười hai tháng, tháng đào hoa kết
trái là tháng không rằm em ơi!
Đối đáp như vậy thì còn bắt bẻ vào
đâủ Vì chài và lái thì cũng lấy từ cây gai
để thất để nối, mặc dầu lá gai
còn dùng để làm bánh ít, được nhiều công
dụng cho dân quê như cũng chỉ là loài cây cỏ
dại mọc khắp ven rừng, thì có gì quý báu đâu mà
phải chọn lựả
Còn "tháng đào hoa kết trái" thì mới chính là cái
tháng hiếm quý nhất trên đời, cho nên tháng ấy
không có "ngày rằm" là phải, nếu ai không tin thì
hãy cứ trồng hoa đào mà đợi xem!
Bởi vì tháng ấy nó đằm thắm như tình
cảm của các thanh niên thiếu nữ ở nơi
đồng quê thôn dã tình cảm ấy nó thơm ngát
như cỏ nội hoa đồng, chân phương
như một màu bát ngát của cánh đồng lúa vàng,
đang nằm trải dài phơi mình trong nắng
sớm... Tình cảm ấy đã gói ghém một bản
chất đôn hậu nhưng chân thành, đã thể hiện
qua điệu hò câu hát của miền dân dã. Tâm sự
ấy đã gắn liền với nếp sống hàng
ngày như hơi thở, đem nguồn vui đến
như bao tiếng cười dòn tan của trai gái trong
làng, mỗi lần gặp nhau đầu ngõ.
Khi mới mở mắt chào đời chúng ta đã nghe
tiếng ru của Mẹ, tiếng hát của anh, câu hò
của chị...Hòa cùng bao niềm yêu mến của bà con
xóm giềng, là những chất liệu đã nuôi
dưỡng cho chúng ta khôn lớn, ấp ủ cho chúng ta
có một tâm hồn phong phú về nền văn học
dân gian, mà nó vẫn tiềm tàng trong chúng ta, nó vẫn
chiếm ngự nguy nga giữa lòng mọi người dù
còn ở nơi quê nhà, hay không may phải nghìn trùng xa cách!
Vì nền văn học ấy đã chất chứa
đầy tính chất của dân tộc Việt, tạo
nguồn vui cho gia đình và xã hội ..
|